Mục Lục
Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước)

Phục-truyền Luật-lệ Kư

Đoạn: [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11]] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29] [30] [31] [32] [33] [34]

Đoạn:[1]     
 Ba bài giảng của Môi-se (từ đoạn 1 đến đoạn 30)
 
bài giảng thứ nhất của Môi-se nhắc lại các ơn Chúa đă làm trong đồng vắng
1. Nầy là lời Môi-se nói cho cả Y-sơ-ra-ên, bên kia sông Giô-đanh, tại đồng vắng, trong đồng bằng, đối ngang Su-phơ, giữa khoảng Pha-ran và Tô-phên, La-ban, Hát-sê-rốt, và Đi-xa-háp.
2. Từ Hô-rếp tới Ca-đe-Ba-nê-a, bởi đường núi Sê-i-rơ, đi mười một ngày đường.
3. Nhằm năm bốn mươi, ngày mồng một tháng mười một. Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên mọi điều mà Đức Giê-hô-va đă biểu người phải nói cùng họ.
4. Ấy là sau khi người đă đánh giết Si-hôn, vua dân A-mô-rít ở tại Hết-bôn, và Óc, vua Ba-san, ở tại Ách-ta-rốt và Ết-rê-i.
5. Tại bên kia sông Giô-đanh, trong xứ Mô-áp, Môi-se khởi giảng giải luật pháp nầy mà rằng:
6. Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta có phán cùng chúng ta tại Hô-rếp mà rằng: Các ngươi kiều ngụ trong núi nầy đă lâu quá;
7. hăy ṿng lại và đi đến núi dân A-mô-rít, cùng đến các miền ở gần bên, tức là đến nơi đồng bằng, lên núi, vào xứ thấp, đến miền nam, lên mé biển, vào xứ dân Ca-na-an và Li-ban, cho đến sông lớn, là sông Ơ-phơ-rát.
8. Ḱa, ta phó xứ nầy cho các ngươi! Hăy vào và chiếm lấy xứ mà Đức Giê-hô-va đă thề ban cho tổ phụ các ngươi, là Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, cùng cho con cháu của họ.
9. Trong lúc đó ta có nói cùng các ngươi rằng: Một ḿnh ta không đủ sức cai trị các ngươi.
10. Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đă gia thêm các ngươi, ḱa ngày nay, các ngươi đông như sao trên trời.
11. Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi khiến các ngươi thêm lên gấp ngàn lần và ban phước cho, y như Ngài đă phán cùng các ngươi.
12. Một ḿnh ta làm thế nào mang lấy trách nhiệm và gánh nặng về điều tranh tụng của các ngươi?
13. Hăy chọn trong mỗi chi phái các ngươi những người khôn ngoan, thông sáng, có tiếng, và ta sẽ lập họ lên làm quan trưởng các ngươi.
14. Các ngươi có đáp rằng: Việc người toan làm thật tốt thay.
15. Bấy giờ, ta chọn lấy những người quan trưởng của các chi phái, là những người khôn ngoan, có tiếng, lập lên làm quan tướng các ngươi, hoặc cai ngàn người, hoặc cai trăm người, hoặc cai năm mươi người, hoặc cai mười người, và làm quản lư trong những chi phái của các ngươi.
16. Trong lúc đó, ta ra lịnh cho những quan xét các ngươi rằng: Hăy nghe anh em các ngươi, và lấy công b́nh mà xét đoán sự tranh tụng của mỗi người với anh em ḿnh, hay là với khách ngoại bang ở cùng người.
17. Trong việc xét đoán, các ngươi chớ tư vị ai; hăy nghe người hèn như nghe người sang, đừng có sợ ai, v́ sự xét đoán thuộc về Đức Chúa Trời. Phàm việc nào lấy làm rất khó cho các ngươi, hăy đem đến trước mặt ta th́ ta sẽ nghe cho.
18. Vậy, trong lúc đó, ta có truyền cho các ngươi mọi điều ḿnh phải làm.
19. Đoạn, bỏ Hô-rếp, chúng ta trải ngang qua đồng vắng minh-mông và gớm ghê mà chúng ta thấy kia, hướng về núi dân A-mô-rít, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đă phán dặn; rồi chúng ta đến Ca-đe-Ba-nê-a.
20. Bấy giờ, ta nói cùng các ngươi rằng: Các ngươi đă đến núi của dân A-mô-rít mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ban cho chúng ta.
21. Ḱa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi phó xứ nầy cho ngươi; hăy đi lên, chiếm làm sản nghiệp, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi đă phán cùng ngươi; chớ ái ngại, chớ kinh khủng.
22. Các ngươi hết thảy bèn lại gần ta và nói rằng: Hăy sai những người đi trước chúng tôi, đặng do thám xứ và chỉ bảo về đường sá nào chúng tôi phải lên, và các thành chúng tôi phải vào.
23. Lời nầy đẹp ḷng ta; ta chọn mười hai người trong các ngươi, tức mỗi chi phái một người.
24. Mười hai người đó ra đi, lên núi, đi đến khe Ếch-côn và do thám xứ.
25. Họ hái cầm trong tay ḿnh những trái cây xứ đó, đem về cho chúng ta; thuật lại cùng chúng ta rằng: Xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ban cho thật là tốt.
26. Nhưng các ngươi không muốn lên đó, và đă bội nghịch mạng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi,
27. lằm bằm trong trại ḿnh mà rằng: Ấy bởi Đức Giê-hô-va ghét chúng ta, nên khiến chúng ta ra xứ Ê-díp-tô, đặng phó chúng ta vào tay dân A-mô-rít, để tiêu diệt đi.
28. Chúng ta sẽ đi lên đâu? Anh em chúng ta làm cho chúng ta tiêu gan v́ nói rằng: Ấy là một dân đông hơn và cao lớn hơn chúng ta; ấy là những thành lớn và kiên cố đến tận trời; vả lại, tại đó, chúng tôi có thấy những con cháu của dân A-na-kim.
29. Nhưng ta nói cùng các ngươi rằng: Chớ ái ngại và chớ sợ sệt ǵ.
30. Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đi trước, chính Ngài sẽ chiến-cự cho các ngươi, như Ngài đă thường làm trước mắt các ngươi tại xứ Ê-díp-tô,
31. và trong đồng vắng-là nơi ngươi thấy rằng trọn dọc đường ngươi đi, cho đến khi tới chốn nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă bồng ngươi như một người bồng con trai ḿnh.
32. Dầu vậy, các ngươi vẫn không tin Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi,
33. là Đấng đi trước dẫn các ngươi trên đường, để t́m cho các ngươi một nơi đóng trại; ban đêm trong đám lửa, ban ngày trong đám mây, đặng chỉ con đường các ngươi phải đi.
34. Bấy giờ, Đức Giê-hô-va nghe tiếng của lời nói các ngươi, bèn nổi giận và thề rằng:
35. Chẳng một ai của ḍng dơi gian ác nầy sẽ thấy xứ tốt đẹp mà ta đă thề ban cho tổ phụ các ngươi,
36. ngoại trừ Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê. Người sẽ thấy xứ đó; và ta sẽ ban cho người cùng con cháu người xứ mà người đă trải qua, bởi v́ người có theo Đức Giê-hô-va cách trung tín trọn vẹn.
37. Lại, Đức Giê-hô-va v́ cớ các ngươi cũng nổi giận cùng ta, mà rằng: Ngươi cũng vậy, sẽ không vào đó đâu.
38. Giô-suê, con trai Nun, là đầy tớ ngươi, sẽ được vào đó. Hăy làm cho người vững ḷng, v́ ấy là người sẽ khiến dân Y-sơ-ra-ên nhận lấy xứ nầy lảm sản nghiệp.
39. Những con trẻ của các ngươi mà các ngươi đă nói rằng sẽ thành một miếng mồi, và những con trai các ngươi hiện bây giờ chưa biết điều thiện hay là điều ác, sẽ vào xứ đó. Ta sẽ ban cho chúng nó xứ nầy làm sản nghiệp;
40. nhưng các ngươi hăy trở về, đi đến đồng vắng về hướng Biển đỏ.
41. Lúc đó, các ngươi bèn đáp cùng ta mà rằng: Chúng tôi đă phạm tội cùng Đức Giê-hô-va; chúng tôi sẽ đi lên chiến trận và làm mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi đă phán dặn. Mỗi người trong các ngươi nịt binh khí và toan dại dột đi lên núi.
42. Đức Giê-hô-va bèn phán cùng ta rằng: Hăy nói cùng dân sự: Chớ đi lên và chớ chiến trận, v́ ta không ngự giữa các ngươi; e các ngươi bị quân thù nghịch đánh bại.
43. Ta có thuật lại những lời nầy, nhưng các ngươi không nghe ta, nghịch mạng của Đức Giê-hô-va, đầy sự kiêu ngạo, kéo đi lên núi.
44. Bấy giờ, người A-mô-rít ở trong núi nầy, đi ra đón và đuổi các ngươi như thể đoàn ong, đánh bại các ngươi tại Sê-i-rơ cho đến Họt-ma.
45. Khi trở về, các ngươi có khóc lóc trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng Đức Giê-hô-va không lắng tai và chẳng khứng nghe tiếng của các ngươi.
46. Ấy v́ thế nên các ngươi ở tại Ca-đe lâu ngày, nhiều ngày biết dường bao!

Đoạn:[2]   trở về
 Môi-se cứ giảng : Dân sự ra khỏi đồng vắng và chiếm xứ si-hôn vua Hết-bôn
1. Đoạn, chúng ta trở lại đi vào đồng vắng về hướng Biển đỏ, y như Đức Giê-hô-va đă phán dặn ta, và chúng ta đi ṿng lâu ngày quanh núi Sê-i-rơ.
2. Đức Giê-hô-va có phán cùng ta mà rằng:
3. Các ngươi đi ṿng núi nầy cũng đă lâu rồi, hăy trở lên hướng bắc.
4. Hăy truyền lịnh nầy cho dân sự: Các ngươi sẽ trải qua địa phận của anh em ḿnh, tức là con cháu Ê-sau, ở tại Sê-i-rơ, và chúng nó sẽ sợ các ngươi. Nhưng hăy giữ lấy ḿnh,
5. chớ có tranh cùng chúng nó, v́ ta sẽ không cho các ngươi xứ của chúng nó đâu, dầu đến nỗi một thẻo đất bằng bàn chân cũng không cho. Ta đă ban cho Ê-sau núi Sê-i-rơ làm sản nghiệp.
6. Các ngươi sẽ dùng tiền bạc mà mua lương thực của chúng nó mà ăn, nước mà uống.
7. V́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă ban phước cho mọi công việc làm của tay ngươi; Ngài đă biết cuộc đi đường ngươi ngang qua đồng vắng lớn lao nầy. Trong bốn mươi năm nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi; ngươi không thiếu chi hết.
8. Vậy, chúng ta có đi ngang qua cách xa anh em ta, là con cháu Ê-sau, ở tại Sê-i-rơ, và bắt đi về hướng đồng vắng Mô-áp, đặng tránh con đường đồng bằng, cùng Ê-lát và Ê-xi-ôn-Ghê-be.
9. Đức Giê-hô-va bèn phán cùng ta rằng: Chớ đương địch và chớ chiến trận với dân Mô-áp; v́ ta không cho ngươi chi trong xứ dân ấy làm sản nghiệp đâu, bởi ta đă ban A-rơ cho con cháu Lót làm sản nghiệp.
10. (Lúc trước, dân Ê-mim ở tại đó. Ấy là một dân lớn, đông, h́nh giềng giàng như dân A-na-kim vậy.
11. Người ta cũng cho dân nầy là dân giềng giàng như dân A-na-kim; nhưng dân Mô-áp gọi họ là Ê-mim.
12. Dân Hô-rít lúc trước cũng ở tại Sê-i-rơ; song con cháu Ê-sau diệt dân ấy, đoạt lấy xứ họ và ở thế cho, y như Y-sơ-ra-ên làm trong xứ mà Đức Giê-hô-va đă ban cho người làm sản nghiệp).
13. Bây giờ, hăy đứng dậy, đi ngang qua khe Xê-rết. Vậy, chúng ta có đi ngang khe Xê-rết.
14. Vả, th́ giờ về các cuộc đi đường của chúng ta, từ khi ĺa khỏi Ca-đe-Ba-nê-a, tới lúc đi ngang qua khe Xê-rết, cộng là ba mươi tám năm, cho đến chừng các người chiến sĩ về đời ấy đă diệt mất khỏi trại quân, y như Đức Giê-hô-va đă thề cùng các người đó.
15. Vả lại, tay Đức Giê-hô-va cũng tra vào họ đặng diệt họ khỏi trại quân, cho đến chừng nào họ đều tiêu diệt hết.
16. Xảy khi các người chiến sĩ đă bị tiêu diệt và chết mất khỏi dân sự,
17. th́ Đức Giê-hô-va phán cùng ta mà rằng:
18. Ngày nay ngươi sẽ đi ngang qua A-rơ, bờ cơi của dân Mô-áp,
19. và đến gần con cháu Am-môn. Chớ đương địch và chớ chiến trận cùng chúng nó; v́ ta không cho ngươi chi hết của xứ con cháu Am-môn làm sản nghiệp, bởi ta đă ban xứ đó cho con cháu của Lót làm sản nghiệp.
20. (Nguyên xứ nầy gọi là xứ Rê-pha-im. Xưa kia dân Rê-pha-im ở đó, dân Am-môn gọi là Xam-xu-mim;
21. ấy là một dân lớn, đông, h́nh giềng giàng như dân A-na-kim. Nhưng Đức Giê-hô-va diệt dân Rê-pha-im trước mặt dân Am-môn; dân Am-môn đoạt lấy xứ của họ và ở thế cho.
22. Ấy Ngài đă làm cho con cháu Ê-sau, ở tại Sê-i-rơ, là như vậy, khi Ngài hủy diệt dân Hô-rít trước mặt con cháu Ê-sau; họ chiếm lấy xứ dân ấy và ở thế vào chỗ cho đến ngày nay.
23. C̣n dân A-vim, ở trong những làng cho đến Ga-xa, dân Cáp-tô-rim ở từ Cáp-tô ra hủy diệt họ, và ở thế vào cho).
24. Hăy đứng dậy đi ngang qua khe Ạt-nôn. Ḱa, ta đă phó Si-hôn, vua Hết-bôn, là người A-mô-rít, cùng xứ người vào tay ngươi; hăy khởi chiếm lấy và giao chiến cùng người.
25. Ngày nay, ta khởi rải trên các dân tộc trong thiên hạ sự sợ hăi và kinh khủng về danh ngươi, đến nỗi khi nghe nói về ngươi, các dân tộc đó sẽ run rẩy và bị sự kinh khủng áp hăm trước mặt ngươi.
26. Bấy giờ, từ đồng vắng Kê-đê-mốt, ta sai sứ giả đến Si-hôn, vua Hết-bôn, lấy lời ḥa hảo đặng nói cùng người rằng:
27. Xin cho phép tôi đi ngang qua xứ vua; tôi đi theo đường cái luôn luôn, không xây qua bên hữu hay bên tả.
28. Vua sẽ nhận lấy bạc bán lương thực cho, để tôi có mà ăn; sẽ nhận lấy bạc bán nước, để tôi có mà uống. Chỉ hăy để cho tôi đi ngang qua luôn,
29. cũng như con cháu Ê-sau ở tại Sê-i-rơ, và dân Mô-áp ở tại A-rơ đă cho phép vậy, cho đến chừng nào tôi đi qua Giô-đanh, đặng vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ban cho tôi.
30. Nhưng Si-hôn, vua Hết-bôn, không khứng chúng ta đi ngang qua địa phận người; v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă khiến cho tánh người ngoan ngạnh, ḷng người cứng cỏi, để phó người vào tay ngươi, y như điều đă xảy đến ngày nay.
31. Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: ḱa, từ bây giờ, ta phó Si-hôn và xứ người cho ngươi. Hăy khởi chiếm lấy xứ người đặng làm cơ nghiệp.
32. Vậy, Si-hôn và cả dân sự người ra đón chúng ta, đặng giao chiến tại Gia-hát.
33. Nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta phó người cho chúng ta, và chúng ta đánh bại người, các con trai cùng cả dân sự của người.
34. Trong lúc đó, ta chiếm hết các thành người, khấn vái diệt hết các thành, cả người nam, người nữ, và các con trẻ, không chừa lại một ai.
35. Chúng ta chỉ có cướp lấy cho phần ḿnh súc vật và hóa tài của các thành ḿnh đă thắng được.
36. Từ A-rô-e, ở trên mé khe Ạt-nôn, và cái thành ở trong trũng, cho đến Ga-la-át, chẳng có một thành nào lấy làm kiên cố quá cho chúng ta; Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đă phó các thành đó cho chúng ta hết.
37. Chỉn ngươi không có lại gần xứ của con cháu Am-môn, ở dọc khắp mé khe Gia-bốc, hoặc các thành trên núi hay là chỗ nào Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta cấm không cho chúng ta chiếm lấy.

Đoạn:[3]    trở về
  Môi-se diễn tiếp Óc, vua Ba-san thất trận; chia xứ lấy được cho Ru-bên,
 Gát và phân nửa chi phái Ma-na-se

1. Bấy giờ, chúng ta trở lại bắt đường Ba-san đi lên. Óc, vua Ba-san, và cả dân sự người ra đón chúng ta, đặng giao chiến tại Ếch-rê-i.
2. Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Ngươi chớ sợ, v́ ta đă phó người, cả dân sự và xứ người vào tay ngươi; ngươi sẽ làm cho người như ngươi đă làm cho Si-hôn, vua A-mô-rít, ở tại Hết-bôn.
3. Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta cũng có phó vào tay chúng ta Óc, vua Ba-san, và cả dân sự người; chúng ta có đánh bại người đến chừng không c̣n lại một ai.
4. Trong lúc đó chúng ta chiếm lấy các thành của người, không có thành nào mà ḿnh không chiếm lấy; tức là sáu mươi cái thành và toàn miền Ạt-gốp, là nước của Óc trong xứ Ba-san.
5. Các thành nầy vốn là đồn lũy có vách cao, cửa và cây gài; cũng có lấy những thành không có vách rất nhiều.
6. Chúng ta khấn vái tận diệt các thành nầy, như chúng ta đă làm cho Si-hôn, vua Hết-bôn, tức là khấn vái diệt hết các thành, các người nam, người nữ, và con trẻ.
7. Nhưng chúng ta chiếm lấy về phần ḿnh hết thảy súc vật và hóa tài của các thành ấy.
8. Vậy, trong lúc đó, chúng ta chiếm lấy của hai vua A-mô-rít, xứ bên kia sông Giô-đanh, từ khe Ạt-nôn đến núi Hẹt-môn
9. (dân Si-đôn gọi núi Hẹt-môn là Si-ri-ôn; c̣n dân A-mô-rít đặt tên là Sê-ni-rơ);
10. các thành của đồng bằng, toàn Ga-la-át và toàn Ba-san, cho đến Sanh-ca và Ết-rê-i là hai thành nước Óc trong Ba-san.
11. (V́ về dân tộc Rê-pha-im, chỉ có một ḿnh Óc, vua Ba-san, c̣n lại. Nầy, cái giường bằng sắt của người, há chẳng c̣n tại Ráp-ba, thành của con cháu Am-môn sao? Bề dài giường là chín thước, bề ngang bốn thước, theo thước tay người nam).
12. Vậy, trong lúc đó, chúng ta chiếm lấy xứ nầy. Ta cho người Ru-bên và người Gát từ xứ A-rô-e, ở trên khe Ạt-nôn và phân nửa núi Ga-la-át, cùng các thành của nó.
13. Ta cho phân nửa chi phái Ma-na-se phần c̣n lại của núi Ga-la-át, và toàn Ba-san, nước của Óc, tức là cả miền Ạt-gốp cùng toàn Ba-san vậy. Miền ấy gọi là xứ Rê-pha-im.
14. Giai-rơ, con trai Ma-na-se, chiếm lấy cả miền Ạt-gốp cho đến giới hạn dân Ghê-su-rít và Ma-ca-thít, đặt tên ḿnh cho các thôn xứ Ba-san, là thôn Giai-rơ, đến ngày nay hăy c̣n.
15. Ta cũng cho Ma-ki xứ Ga-la-át.
16. Về người Ru-bên và người Gát, ta cho phần Ga-la-át có ranh ở giữa khe Ạt-nôn cho đến khe Gia-bốt, là giới hạn của con cháu Am-môn,
17. luôn với đồng bằng Giô-đanh, từ Ki-nê-rết tới biển của đồng bằng, tức là Biển mặn, dưới triền núi Phích-ga, về phía đông.
18. Vả, trong lúc đó, ta truyền lịnh nầy cho các ngươi, mà rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi có phó xứ nầy cho các ngươi đặng nhận lấy làm sản nghiệp; hết thảy những chiến sĩ trong các ngươi phải cầm binh khí đi qua trước anh em ḿnh, là dân Y-sơ-ra-ên.
19. Chỉ những vợ, con trẻ, và súc vật các ngươi (ta biết rằng các ngươi có nhiều súc vật) sẽ ở lại trong những thành mà ta đă cho các ngươi,
20. đến chừng nào Đức Giê-hô-va cho anh em các ngươi sự an nghỉ như ḿnh, và anh em cũng nhận được xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi ban cho họ tại phía bên kia sông Giô-đanh; đoạn mọi người trong các ngươi sẽ trở về sản nghiệp ḿnh mà ta đă ban cho các ngươi.
21. Đang lúc ấy, ta cũng truyền lịnh nầy cho Giô-suê mà rằng: Mắt ngươi có thấy mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đă làm cho hai vua nầy; Đức Giê-hô-va sẽ làm như vậy cho các nước nào mà ngươi sẽ đi qua.
22. Đừng sợ các nước đó, v́ chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi tranh chiến cho các ngươi.
23. Trong lúc nầy, ta cầu khẩn cùng Đức Giê-hô-va mà rằng:
24. Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa đă khởi tỏ cho kẻ tôi tớ Chúa sự oai nghiêm lớn, và cánh tay quyền năng của Chúa; v́ trên trời dưới đất há có thần nào làm được việc và công sự quyền năng giống như của Chúa chăng?
25. Tôi xin Chúa cho phép tôi đi qua xem xứ tốt tươi, núi đẹp đẽ nầy, và Li-ban ở bên kia sông Giô-đanh.
26. Nhưng Đức Giê-hô-va, bởi cớ các ngươi, nổi giận cùng ta, không nhận lời ta, bèn phán rằng: Thôi; chớ c̣n nói về việc nầy cùng ta nữa.
27. Hăy đi lên chót Phích-ga, ngước mắt ngươi lên về hướng tây, hướng bắc, hướng nam, và hướng đông mà nh́n xứ ấy, v́ ngươi sẽ không đi ngang qua sông Giô-đanh nầy đâu.
28. Song hăy truyền mạng lịnh cho Giô-suê, làm cho người vững ḷng bền chí; v́ ấy là người phải đi qua trước mặt dân nầy, khiến chúng nhận lấy xứ mà ngươi sẽ thấy.
29. Ấy vậy, chúng ta có ở trong trũng, đối ngang Bết-Phê-o.

Đoạn:[4]    trở về
  Môi-se khuyên dân Y-sơ-ra-ên giữ các điều răn của Đức Chúa Trời
1. Hỡi Y-sơ-ra-ên, bây giờ hăy nghe những mạng lịnh và luật lệ mà ta dạy các ngươi; hăy làm theo, để các ngươi được sống và vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi ban cho các ngươi nhận được.
2. Các ngươi chớ thêm chi và đừng bớt chi về điều ta truyền cho, để giữ theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi mà ta đă truyền.
3. Nhân dịp của Ba-anh-Phê-o, mắt các ngươi đă thấy điều Đức Giê-hô-va đă làm; v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi có diệt khỏi giữa ngươi mọi kẻ tin theo Ba-anh-Phê-o.
4. C̣n các ngươi, là những kẻ vẫn theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời ḿnh, ngày nay hết thảy c̣n sống.
5. Nầy đây, ta đă dạy các ngươi những mạng lịnh và luật lệ y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta đă phán dặn ta, để các ngươi làm theo ở giữa xứ ḿnh sẽ vào đặng nhận lấy.
6. Vậy, các ngươi phải giữ làm theo các mạng lịnh và luật lệ nầy; v́ ấy là sự khôn ngoan và sự thông sáng của các ngươi trước mặt các dân tộc; họ nghe nói về các luật lệ nầy, sẽ nói rằng: Dân nầy là một dân khôn ngoan và thông sáng không hai!
7. Vả chăng, há có dân lớn nào mà có các thần ḿnh gần như chúng ta có Giê-hô-va Đức Chúa Trời gần chúng ta, mọi khi chúng ta cầu khẩn Ngài chăng?
8. Lại, há có nước lớn nào có những mạng lịnh và luật lệ công b́nh như cả luật pháp nầy, mà ngày nay ta đặt trước mặt các ngươi chăng?
9. Chỉ hăy giữ lấy ngươi, lo canh cẩn thận linh hồn ḿnh, e ngươi quên những điều mà mắt ḿnh đă thấy, hầu cho chẳng một ngày nào của đời ngươi những điều đó ĺa khỏi ḷng ngươi: Phải dạy cho các con và cháu ngươi.
10. Hăy nhớ ngày ngươi chầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi tại Hô-rếp, khi Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hăy nhóm hiệp dân sự để ta khiến chúng nghe lời ta, hầu cho tập kính sợ ta đang lúc họ c̣n sống nơi thế thượng, và dạy lời đó cho con cái ḿnh.
11. Vậy, các ngươi lại gần và đứng dưới núi. Vả, núi cả lửa cháy cho đến tận trời; có sự tối tăm, mây mịt mịt và đen kịt.
12. Từ trong lửa, Đức Giê-hô-va phán cùng các ngươi; các ngươi nghe một tiếng nói, nhưng không thấy một h́nh trạng nào; chỉ nghe một tiếng mà thôi.
13. Ngài rao truyền cho các ngươi biết sự giao ước của Ngài, tức là mười điều răn, khiến các ngươi ǵn giữ lấy, và Ngài chép mười điều răn ấy trên hai bảng đá.
14. Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va cũng phán dặn ta dạy các ngươi những mạng lịnh và luật lệ, để các ngươi làm theo tại trong xứ mà ḿnh sẽ đi vào nhận lấy.
15. Vậy, các ngươi hăy cẩn thận giữ lấy linh hồn ḿnh cho lắm, v́ các ngươi không có thấy một h́nh trạng nào trong ngày Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, từ nơi giữa lửa phán cùng các ngươi, tại Hô-rếp;
16. e các ngươi phải làm hư hoại cho ḿnh chăng, và làm một tượng chạm nào, tạo h́nh trạng của tà thần nào, hoặc h́nh của người nam hay người nữ,
17. hoặc h́nh của con thú nào đi trên đất, hoặc h́nh của vật nào có cánh bay trên trời,
18. hoặc h́nh của loài côn trùng nào ḅ trên đất, hay là h́nh của con cá nào ở trong nước dưới đất;
19. lại, e khi ngươi ngước mắt lên trời thấy mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, tức là toàn cả thiên binh, th́ ngươi bị quyến dụ qú xuống trước các v́ đó, và thờ lạy các tinh tú nầy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă chia phân cho muôn dân dưới trời chăng.
20. C̣n các ngươi, Đức Giê-hô-va đă chọn và rút các ngươi khỏi ḷ lửa bằng sắt kia, là xứ Ê-díp-tô, để các ngươi thành một dân riêng của Ngài, y như các ngươi đă là điều đó ngày nay.
21. Đoạn, Đức Giê-hô-va, v́ cớ các ngươi, nổi giận cùng ta, có thề rằng ta không được đi ngang qua sông Giô-đanh, và chẳng đặng vào xứ tốt đẹp mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp.
22. V́ ta phải chết trong xứ nầy, không đi ngang qua sông Giô-đanh được; nhưng các ngươi sẽ đi qua và nhận lấy xứ tốt đẹp ấy.
23. Khá cẩn thận giữ lấy ḿnh, chớ quên sự giao ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đă lập cùng các ngươi, và chớ làm tượng chạm nào, h́nh của vật nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă cấm;
24. v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi như một đám lửa tiêu cháy, và là Đức Chúa Trời hay kỵ tà.
25. Khi các ngươi sẽ có con cùng cháu, và khi đă ở lâu trong xứ rồi, nếu các ngươi làm bại hoại ḿnh, làm tượng chạm nào, h́nh của vật chi mặc dầu, mà hành ác trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi để chọc Ngài nổi giận,
26. th́ ngày nay ta bắt trời và đất làm chứng quyết cho các ngươi rằng các ngươi sẽ chết vội, và khuất mất khỏi xứ mà ḿnh sẽ đi nhận lấy tại bên kia sông Giô-đanh. Các ngươi chẳng ở đó lâu dài đâu, nhưng sẽ bị tận diệt.
27. Đức Giê-hô-va sẽ tản lạc các ngươi trong các nước, chỉ c̣n lại số nhỏ trong các nước mà Đức Giê-hô-va sẽ dẫn các ngươi vào;
28. ở đó các ngươi sẽ cúng thờ những thần bằng cây và bằng đá, là công việc của tay loài người làm nên, chẳng thấy, chẳng nghe, chẳng ăn, cũng chẳng ngửi.
29. Ở đó ngươi sẽ t́m cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và khi nào hết ḷng hết ư t́m cầu Ngài th́ mới gặp.
30. Khi ngươi bị gian nan, và các việc nầy xảy đến cho ngươi, bấy giờ trong ngày cuối cùng, ngươi sẽ trở về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và vâng theo tiếng Ngài.
31. V́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi là Đức Chúa Trời hay thương xót sẽ không bỏ ngươi và không hủy diệt ngươi đâu; cũng chẳng quên sự giao ước mà Ngài đă thề cùng các tổ phụ ngươi.
32. Vậy, ngươi hăy hỏi học về thời kỳ có trước ngươi, từ ngày Đức Chúa Trời dựng nên loài người trên đất, tự góc trời nầy đến góc trời kia, nếu bao giờ có xảy ra việc nào lớn dường ấy, hay là người ta có nghe sự chi giống như vậy chăng?
33. tức là: Há có một dân tộc nào nghe tiếng Đức Chúa Trời từ trong lửa phán ra như ngươi đă nghe, mà vẫn c̣n sống chăng?
34. hay là Đức Chúa Trời há có cậy lấy sự thử thách dấu kỳ, điềm lạ, chiến tranh, cánh tay quyền năng giơ thẳng ra, cùng cậy công sự to tát và gớm ghê, đặng thử đi chiếm một dân tộc cho ḿnh ở giữa một dân tộc khác, như mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đă làm cho các ngươi tại xứ Ê-díp-tô, dưới mắt ḿnh chăng?
35. Ngươi đă chứng kiến mọi điều đó, để nh́n biết rằng Giê-hô-va, ấy là Đức Chúa Trời, chớ không ai khác hơn Ngài.
36. Ngài từ trên trời khiến cho ngươi nghe tiếng Ngài để dạy ngươi; trên đất Ngài khiến cho ngươi thấy đám lửa lớn Ngài, và từ trong lửa ngươi có nghe lời Ngài phán ra.
37. Bởi v́ Ngài yêu mến các tổ phụ ngươi, nên chọn lấy ḍng dơi các người ấy, và chánh Ngài nhờ quyền năng lớn ḿnh rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô,
38. đặng đuổi khỏi trước mặt ngươi những dân tộc lớn hơn và mạnh hơn ngươi, đặng đưa ngươi vào xứ của dân đó, và ban cho làm sản nghiệp, y như điều ấy xảy đến ngày nay.
39. Vậy, ngày nay hăy biết và ghi tạc trong ḷng ngươi rằng Giê-hô-va, ấy là Đức Chúa Trời trên trời cao kia và dưới đất thấp nầy,chẳng có ai khác.
40. Hăy giữ những luật lệ và điều răn của Ngài, mà ngày nay ta truyền cho ngươi, hầu cho ngươi và con cháu ngươi đều có phước, ở lâu dài trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi măi măi.

     Ba thành ẩn náu ở bên kia sông Giô-đanh
41. Môi-se bèn biệt ra ba cái thành ở bên kia sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc,
42. để kẻ sát nhân vô ư giết người lân cận ḿnh, mà không có ghét trước, được thế trốn tránh và ẩn núp trong một của các thành nầy, và được sống.
43. Ấy là Bết-se nơi rừng vắng, trong xứ đồng bằng, để cho người Ru-bên; Ra-mốt nơi Ga-la-át, để cho người Gát, và Gô-lan nơi Ba-san, để cho người Ma-na-se.

      Bài giảng thứ nh́ : Môi-se truyền luật pháp cho dân Y-sơ-ra-ên.
44. Nầy là luật pháp mà Môi-se đặt trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
45. Nầy là chứng cớ, mạng lịnh, và luật lệ mà Môi-se truyền cho dân Y-sơ-ra-ên khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô,
46. ở bên kia sông Giô-đanh, trong trũng đối ngang Bết-Phê-o, tại xứ Si-hôn, vua dân A-mô-rít, ở Hết-bôn, mà Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên đánh bại khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
47. Dân Y-sơ-ra-ên chiếm xứ người luôn với xứ Óc, vua Ba-san, là hai vua dân A-mô-rít, ở tại bên kia sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc, từ A-rô-e
48. trên bờ khe Ạt-nôn, cho đến núi Si-ri-ôn, nghĩa là Hẹt-môn,
49. và toàn đồng bằng bên kia sông Giô-đanh, về phía đông cho đến biển của đồng bằng, dưới triền núi Phích-ga.

Đoạn:[5]   trở về
 Truyền lại mười điều-răn: Khuyên dân sự phải vâng lời
1. Vậy, Môi-se gọi cả Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: Hơi Y-sơ-ra-ên, hăy nghe những luật lệ và mạng lịnh mà ngày nay ta rao truyền nơi lỗ tai các ngươi; các ngươi phải học tập và cẩn thận làm theo những điều đó.
2. Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta có lập giao ước cùng chúng ta tại Hô-rếp.
3. Chẳng phải cùng tổ phụ chúng ta mà Đức Giê-hô-va đă lập giao ước nầy đâu, nhưng cùng hết thảy chúng ta hiện ngày nay c̣n sống đây.
4. Đức Giê-hô-va tại trên núi từ giữa lửa, đă đối diện phán cùng các ngươi.
5. Đang lúc đó, ta đứng giữa Đức Giê-hô-va và các ngươi, đặng truyền lại lời của Ngài cho các ngươi; v́ các ngươi sợ lửa, không lên trên núi. Ngài phán rằng:
6. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đă rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là khỏi nhà nô lệ.
7. Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác.
8. Ngươi chớ làm tượng chạm cho ḿnh, cũng chớ làm tượng nào giống như những vật trên trời cao kia, hoặc ở nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất.
9. Ngươi chớ qú lạy trước các h́nh tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; v́ ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời,
10. và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.
11. Ngươi chớ lấy danh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi; v́ Đức Giê-hô-va không cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.
12. Hăy giữ ngày nghỉ đặng làm nên thánh, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă phán dặn ngươi.
13. Ngươi hăy làm hết công việc ḿnh trong sáu ngày;
14. nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: chớ làm một công việc nào hết, hoặc ngươi, con trai con gái, tôi trai tớ gái của ngươi, hoặc ḅ, lừa, hoặc một trong các súc vật của ngươi, hay là khách ở trong nhà ngươi, hầu cho tôi trai và tớ gái ngươi cũng được nghỉ như ngươi.
15. Khá nhớ rằng ngươi đă làm tôi mọi nơi xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi dùng tay quyền năng giơ thẳng ra đem ngươi ra khỏi đó; bởi cớ ấy cho nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi có dặn biểu ngươi phải giữ ngày nghỉ.
16. Hăy hiếu kính cha mẹ ngươi, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi có phán dặn, hầu cho ngươi được sống lâu và có phước trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho.
17. Ngươi chớ giết người.
18. Ngươi chớ phạm tội tà dâm.
19. Ngươi chớ trộm cướp.
20. Ngươi chớ làm chứng dối cho kẻ lân cận ḿnh.
21. Ngươi chớ tham vợ của kẻ lân cận ḿnh; chớ tham nhà của người, hoặc ruộng, tôi trai tớ gái, ḅ, lừa hay là vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi.
22. Tại trên núi, giữa lửa, mây và sự tối tăm, Đức Giê-hô-va có dùng tiếng lớn phán những lời nầy cho cả hội các ngươi, Ngài không thêm chi hết; đoạn Ngài ghi các lời đó trên hai bảng đá, và trao cho ta.
23. Vả, trong khi cả núi phát lửa, các ngươi vừa nghe tiếng từ giữa nơi tối tăm phán ra, th́ những quan trưởng của các chi phái, và những trưởng lăo các ngươi đến gần ta mà nói rằng:
24. Ḱa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi đă tỏ ra sự vinh hiển và sự oai nghiêm Ngài cho chúng tôi, và chúng tôi có nghe tiếng Ngài từ giữa lửa phán ra; ngày nay chúng tôi thấy rằng Đức Chúa Trời có phán cùng loài người và loài người vẫn c̣n sống.
25. Nhưng bây giờ, cớ sao chúng tôi phải chết? v́ đám lửa lớn nầy sẽ tiêu diệt chúng tôi hết. Ví bằng chúng tôi c̣n có nghe tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, th́ chúng tôi phải chết.
26. V́ trong loài người, có ai đă nghe tiếng Đức Chúa Trời sanh hoạt từ giữa lửa phán ra, như chúng tôi mà vẫn c̣n sống?
27. Vậy, ông hăy đi đến gần, nghe mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ phán, rồi hăy truyền lại cho chúng tôi mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ phán cho ông; th́ chúng tôi sẽ nghe và làm theo.
28. Đang khi các ngươi bàn cùng ta, Đức Giê-hô-va nghe những lời của các ngươi, nên phán cùng ta rằng: Ta có nghe những lời dân nầy bàn cùng ngươi; chúng nó nói như vậy lấy làm thậm phải.
29. Ồ! Chớ chi dân nầy thường có một ḷng kính sợ ta, hằng giữ theo các điều răn ta như thế, để chúng nó và con cháu chúng nó được phước đời đời!
30. Hăy đi nói cùng dân sự rằng: Khá trở về trại ḿnh;
31. c̣n ngươi, hăy ở lại đây với ta, ta sẽ truyền các điều răn, luật lệ, và mạng lịnh mà ngươi sẽ dạy lại cho, để chúng nó làm theo các điều đó trong xứ ta sẽ ban cho họ nhận lấy.
32. Vậy, các ngươi khá cẩn thận làm theo, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đă phán dặn các ngươi; chớ xây qua bên hữu, hoặc qua bên tả.
33. Các ngươi khá đi theo trọn đường mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đă chỉ cho, để các ngươi được sống, hưởng phước, và ở lâu dài trong xứ mà ḿnh sẽ nhận được.

Đoạn:[6]     trở về
 Môi-se khuyên dân Y-sơ-ra-ên yêu mến Chúa, chớ hề quên răn-giới, và ơn của Ngài
1. Vả, nầy là điều răn, luật lệ và mạng lịnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đă phán dặn ta dạy lại cho, để các ngươi làm theo nó trong xứ mà các ngươi sẽ đi vào nhận lấy;
2. hầu cho ngươi kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, trọn đời, ngươi và con cháu ngươi vâng giữ các luật lệ và điều răn của Ngài mà ta truyền cho ngươi, để ngươi được sống lâu ngày.
3. Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi hăy nghe lấy và cẩn thận làm theo, hầu cho ngươi được phước và thêm lên nhiều trong xứ đượm sữa và mật, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi đă phán hứa cùng ngươi.
4. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hăy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai.
5. Ngươi phải hết ḷng, hết ư, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
6. Các lời mà ta truyền cho ngươi ngày nay sẽ ở tại trong ḷng ngươi;
7. khá ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi và phải nói đến, hoặc khi ngươi ngồi trong nhà, hoặc khi đi ngoài đường, hoặc lúc ngươi nằm, hay là khi trỗi dậy.
8. Khá buộc nó trên tay ḿnh như một dấu, và nó sẽ ở giữa hai con mắt ngươi như ấn chí;
9. cũng phải viết các lời đó trên cột nhà, và trên cửa ngươi.
10. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă dẫn ngươi vào xứ mà Ngài thề cùng tổ phụ ngươi, là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, đặng ban cho ngươi, khiến ngươi lấy được những thành lớn và tốt mà ngươi không có xây cất;
11. những nhà đầy đủ các thứ của mà ngươi không có chất chứa; các giếng mà ngươi không có đào; cây nho và cây ô-li-ve mà ngươi không có trồng; khi ngươi ăn và được no nê,
12. khá giữ lấy ḿnh, kẻo ngươi quên Đức Giê-hô-va, là Đấng đă đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là khỏi nhà nô lệ.
13. Ngươi phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, phục sự Ngài, và lấy danh Ngài mà thề.
14. Chớ theo các thần khác trong những thần của các dân tộc ở xung quanh các ngươi,
15. v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ngự ở giữa ngươi là Đức Chúa Trời kỵ tà, e cơn thạnh nộ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi nổi lên cùng ngươi, và Ngài diệt ngươi khỏi mặt đất chăng.
16. Các ngươi chớ thử Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, như đă thử Ngài tại Ma-sa.
17. Khá cẩn thận giữ lấy những điều răn, chứng cớ, và luật lệ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đă truyền cho ngươi.
18. Vậy, ngươi phải làm điều ngay thẳng và tốt lành trước mặt Đức Giê-hô-va, để ngươi được phước và vào nhận lấy xứ tốt đẹp mà Đức Giê-hô-va đă thề hứa cùng tổ phụ ngươi, để ban cho ngươi;
19. và Đức Giê-hô-va sẽ đuổi hết những kẻ thù nghịch ra khỏi trước mặt ngươi, y như Ngài đă phán vậy.
20. Về ngày sau, khi con ngươi hỏi ngươi rằng: Các chứng cớ, luật lệ, và mạng lịnh nầy là chi, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi đă truyền cho cha?
21. th́ hăy đáp rằng: Chúng ta đă bị làm tôi mọi cho Pha-ra-ôn tại xứ Ê-díp-tô, và Đức Giê-hô-va có dùng tay mạnh đem chúng ta ra khỏi xứ ấy.
22. Đức Giê-hô-va có làm trước mặt chúng ta những dấu kỳ và phép lạ rất lớn lao đáng sợ, mà hại xứ Ê-díp-tô, Pha-ra-ôn, và cả nhà người;
23. Ngài đă đem chúng ta ra khỏi xứ ấy, để dẫn vào xứ Ngài đă thề cùng tổ phụ chúng ta; để ban cho chúng ta.
24. Đức Giê-hô-va có phán cùng chúng ta khá làm theo các luật lệ nầy, kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, hầu cho chúng ta được phước luôn luôn, và được Ngài bảo tồn sự sống cho chúng ta y như Ngài đă làm đến ngày nay.
25. Vả, chúng ta sẽ được xưng là công b́nh nếu chúng ta cẩn thận làm theo các điều răn nầy trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, y như Ngài đă phán dặn vậy.

Đoạn:[7]     trở về
 Chúa biểu hủy-diệt dân Ca-na-an hay thờ tà-thần
1. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă dẫn ngươi vào xứ ḿnh sẽ nhận được, đuổi khỏi trước mặt ngươi nhiều dân tộc, là dân Hê-tít, dân Ghi-rê-ga-sít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, tức bảy dân tộc lớn và mạnh hơn ngươi,
2. khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă phó  các dân ấy cho, và ngươi đánh bại chúng, th́ phải diệt hết chúng đi, chớ lập giao ước cùng, và cũng đừng thương xót lấy.
3. Ngươi chớ làm sui gia với chúng, chớ gả con gái ḿnh cho con trai họ, cũng đừng cưới con gái họ cho con trai ḿnh,
4. v́ các dân tộc nầy sẽ dụ con trai ngươi ĺa bỏ ta mà phục sự các thần khác, rồi cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng ngươi, diệt ngươi cách vội vàng.
5. Nhưng đối cùng các dân đó, các ngươi phải làm như vầy: phá những bàn thờ, đập bể những pho tượng, đánh hạ các thần A-sê-ra và đốt những h́nh chạm của chúng nó.
6. V́ ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; Ngài đă chọn ngươi trong muôn dân trên mặt đất, đặng làm một dân thuộc riêng về Ngài.
7. Đức Giê-hô-va tríu mến và chọn lấy các ngươi, chẳng phải v́ các ngươi đông hơn mọi dân khác đâu; thật số các ngươi là ít hơn những dân khác.
8. Nhưng ấy v́ Đức Giê-hô-va thương yêu các ngươi, và giữ lời thề mà Ngài đă lập cùng tổ phụ các ngươi, nên Đức Giê-hô-va nhờ tay mạnh rút các ngươi ra, chuộc khỏi nhà nô lệ, và cứu khỏi tay Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô.
9. Vậy nên, phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ấy là Đức Chúa Trời, tức Đức Chúa Trời thành tín, giữ sự giao ước và nhân từ đến ngàn đời cho những người yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài;
10. và Ngài báo ứng nhăn tiền cho những kẻ ghét Ngài, mà hủy diệt chúng nó đi. Ngài không tŕ hoăn cùng kẻ nào ghét Ngài đâu, sẽ báo ứng nhăn tiền cho kẻ đó.
11. Vậy, khá cẩn thận làm theo những điều răn, luật lệ, và mạng lịnh mà ta truyền cho ngươi ngày nay.
12. Nếu ngươi nghe các luật lệ nầy, và ǵn giữ làm theo, th́ đối cùng ngươi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ giữ lời giao ước và sự thương xót mà Ngài đă thề cùng tổ phụ ngươi.
13. Ngài sẽ yêu mến ngươi, ban phước cho ngươi, gia tăng ngươi, ban phước cho con cái ngươi, cho thổ sản ngươi, cho ngũ cốc, rượu, và dầu của ngươi, cho lứa đẻ của ḅ cái, chiên cái ngươi sai đông trên đất mà Ngài đă thề cùng tổ phụ ngươi, để ban cho ngươi.
14. Ngươi sẽ được phước hơn mọi dân: nơi ngươi sẽ chẳng có ai son sẻ, hoặc nam hay nữ, hoặc con đực hay con cái trong bầy súc vật của ngươi.
15. Đức Giê-hô-va sẽ khiến các tật bịnh ĺa xa ngươi; và những bịnh lây của xứ Ê-díp-tô kia, mà ngươi đă biết, th́ Ngài sẽ chẳng giáng cho ngươi đâu, nhưng giáng cho những kẻ nào ghét ngươi.
16. Vậy, phải diệt các dân tộc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi phó cho ngươi, mắt ngươi chớ đoái thương chúng nó, và đừng hầu việc các thần họ; v́ ấy sẽ là một cái bẫy cho ngươi.
17. Nếu ngươi nói trong ḷng rằng: Các dân tộc nầy đông hơn ta, làm sao đuổi chúng nó ra được?
18. th́ chớ sợ, hăy nhớ lại điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă làm cho Pha-ra-ôn và cả xứ Ê-díp-tô,
19. tức là những sự thử thách lớn lao mắt ngươi đă thấy, những dấu kỳ phép lạ, cánh tay quyền năng giơ thẳng ra, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă cậy lấy, đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô: Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ đăi như vậy các dân tộc mà ngươi sợ hăi đó.
20. Vả lại, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ sai những ong lỗ đến hại chúng nó, cho tới chừng nào những kẻ đă thoát khỏi và trốn núp, bị diệt hết trước mặt ngươi.
21. Chớ v́ cớ chúng nó mà sợ hăi chi; v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ngự tại giữa ngươi, là Đức Chúa Trời rất lớn và đáng sợ.
22. Nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ lần lần đuổi các dân tộc nầy khỏi trước mặt ngươi; ngươi không thế diệt chúng nó mau, e những thú rừng thêm nhiều lên mà hại ngươi chăng;
23. song Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ phó chúng nó cho ngươi, và khiến cho sa vào sự kinh hoàng dữ dội, cho đến chừng nào chúng nó bị diệt mất.
24. Ngài sẽ phó các vua chúng nó vào tay ngươi, ngươi phải xóa danh các vua đó khỏi dưới trời, chẳng c̣n một ai chống cự trước mặt ngươi, cho đến chừng nào ngươi đă diệt chúng nó.
25. Các ngươi phải thiêu đốt những tượng chạm về các thần chúng nó. Chớ tham lam, cũng chớ lấy cho ḿnh bạc hay vàng bọc các tượng ấy, e ngươi phải mắc bẫy chăng; v́ vật ấy lấy làm gớm ghiếc cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
26. Chớ đem vàng gớm ghiếc nầy vào nhà ḿnh, e ngươi cũng đáng bị diệt như nó. Khá gớm ghê và hiềm nó đến đều, v́ là một vật đáng diệt.

Đoạn:[8]    trở về
 Môi-se khuyên dân Y-sơ-ra-ên khá biết ơn Đức Chúa Trời , và ở trung tín cùng Ngày trong đất hứa
1. Hăy cẩn thận làm theo hết thảy điều răn mà ta truyền cho các ngươi ngày nay, để các ngươi được sống, được gia thêm, và được vào nhận lấy xứ mà Đức Giê-hô-va đă thề cùng tổ phụ các ngươi, để ban cho các ngươi.
2. Hăy nhớ trọn con đường nơi đồng vắng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă dẫn ngươi đi trong bốn mươi năm nầy, để hạ ngươi xuống và thử ngươi, đặng biết điều có ở trong ḷng ngươi, hoặc ngươi có ǵn giữ những điều răn của Ngài hay chăng.
3. Vậy, Ngài có hạ ngươi xuống, làm cho ngươi bị đói, đoạn cho ăn ma-na mà ngươi và tổ phụ ngươi chưa hề biết, để khiến ngươi biết rằng loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra.
4. Trong bốn mươi năm nầy áo xống ngươi không hư ṃn, chân ngươi chẳng phù lên.
5. Vậy, khá nhận biết trong ḷng rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sửa phạt ngươi như một người sửa phạt con ḿnh vậy.
6. Hăy kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ǵn giữ những điều răn của Ngài, đi theo các đường lối Ngài;
7. v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ khiến ngươi vào xứ tốt tươi, có nhiều khe, suối, nước sâu phun lên trong trũng và trên núi;
8. xứ có lúa ḿ, lúa mạch, dây nho, cây vả, cây lựu; dầu ô-li-ve và mật;
9. xứ đó ngươi sẽ ăn bánh đầy đủ, chẳng thiếu món chi; đá xứ đó là sắt, và từ trong núi ngươi lấy đồng ra.
10. Vậy, ngươi sẽ ăn no nê, và khong khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, v́ cớ xứ tốt tươi mà Ngài đă ban cho.
11. Ngươi khá cẩn thận, e quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, không giữ ǵn những điều răn, mạng lịnh và luật lệ của Ngài, mà ngày nay ta truyền cho ngươi chăng;
12. lại e sau khi đă ăn no nê, cất nhà tốt đặng ở,
13. thấy ḅ chiên của ḿnh thêm nhiều lên, bạc, vàng, và mọi tài sản ḿnh dư dật rồi,
14. th́ bấy giờ ḷng ngươi tự cao, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, là Đấng đă đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức khỏi nhà nô lệ chăng.
15. Ấy là Ngài đă dẫn ngươi đi ngang qua đồng vắng mênh mông gớm ghiếc nầy, đầy những rắn lửa, ḅ kẹp, đất khô khan, chẳng có nước; Ngài khiến nước từ ḥn đá rất cứng phun ra cho ngươi;
16. lại trong đồng vắng, Ngài ban cho ngươi ăn ma-na mà tổ phụ chưa hề biết, để hạ ngươi xuống và thử ngươi, hầu về sau làm ơn cho ngươi.
17. Vậy, khá coi chừng, chớ nói trong ḷng rằng: Ấy nhờ quyền năng ta và sức lực của tay ta mà đoạt được những sản nghiệp nầy.
18. Hăy nhớ lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, v́ ấy là Ngài ban cho ngươi sức lực đoạt được những sản nghiệp, để làm trọn sự giao ước Ngài đă thề cùng tổ phụ ngươi, y như Ngài đă làm ngày nay.
19. Nếu ngươi quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà theo các thần khác, hầu việc và qú lạy trước các thần ấy, th́ ngày nay ta cáo quyết rằng: Các ngươi hẳn sẽ bị diệt mất!
20. Các ngươi sẽ bị diệt mất như những dân tộc kia mà Đức Giê-hô-va tuyệt diệt trước mặt các ngươi, bởi v́ không nghe theo tiếng Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.

Đoạn:[9]    trở về
  Môi-se nhắc lại tại cớ sao  Đức Chúa Trời ban xứ Ca-na-an cho dân Y-sơ-ra-ên
1. Hỡi Y-sơ-ra-ên, hăy nghe! Ngày nay ngươi sẽ đi ngang qua sông Giô-đanh, đặng chiếm lấy các dân tộc lớn và mạnh hơn ngươi, những thành lớn và tường cao đến trời,
2. một dân to lớn và tác cao, là con cháu A-na-kim, mà ngươi đă biết, và có nghe nói rằng: "Ai sẽ đương địch nổi trước mặt con cháu A-nác?"
3. Vậy, ngày nay phải biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đi trước ngươi, như một đám lửa hừng, sẽ tiêu diệt và hạ xuống các dân nầy trước mặt ngươi; ngươi sẽ đuổi ra và diệt chúng nó cách mau, y như Đức Giê-hô-va đă phán cùng ngươi.
4. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă đuổi chúng nó khỏi trước mặt ngươi, chớ nói trong ḷng rằng: Ấy v́ cớ sự công b́nh tôi mà Đức Giê-hô-va khiến tôi vào nhận lấy xứ nầy; thật là bởi sự gian ác của các dân tộc đó, nên Đức Giê-hô-va mới đuổi chúng nó ra khỏi trước mặt ngươi.
5. Ngươi vào nhận lấy xứ của các dân tộc ấy, chẳng phải v́ cớ sự công b́nh ngươi, hay là ḷng chánh trực của ngươi đâu, nhưng v́ cớ sự gian ác của chúng nó, nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ đuổi chúng nó ra khỏi trước mặt ngươi, để làm cho ứng nghiệm lời hứa Ngài đă thề cùng các tổ phụ ngươi, là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
6. Vậy, khá biết rằng chẳng phải v́ cớ sự công b́nh ngươi mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cho ngươi nhận lấy xứ tốt tươi nầy đâu; bởi ngươi vẫn là một dân cứng cổ.
7. Hăy nhớ lại, chớ quên rằng, trong đồng vắng ngươi đă chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi. Từ ngày ra khỏi xứ Ê-díp-tô cho đến chốn nầy, ngươi thường phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va.
8. Tại Hô-rếp, các ngươi cũng đă chọc giận Đức Giê-hô-va; nên Ngài nổi thạnh nộ toan diệt các ngươi.
9. Khi ta đi lên núi đặng lănh hai bảng đá, tức là hai bảng về sự giao ước mà Đức Giê-hô-va đă lập cùng các ngươi, ta ở trên núi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, chẳng uống nước;
10. và Đức Giê-hô-va trao cho ta hai bảng đá, bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra, có đủ những lời mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa, tại trên núi, có phán ra cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp.
11. Xảy khi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm măn rồi, Đức Giê-hô-va ban cho ta hai bảng đá, tức là hai bảng về sự giao ước.
12. Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hăy đứng dậy, mau mau xuống khỏi đây, v́ dân mà ngươi đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô đă tự bại hoại, vội bỏ đạo của ta đă truyền cho, mà chế cho ḿnh một tượng đúc.
13. Đức Giê-hô-va lại phán cùng ta rằng: Ta nh́n xem dân nầy, ḱa là một dân cứng cổ.
14. Hăy để mặc ta diệt chúng nó, và xóa tên chúng nó khỏi dưới trời, rồi ta sẽ làm cho ngươi thành một dân tộc mạnh và lớn hơn dân ấy.
15. Vậy, ta bèn xây lại đi xuống núi, cả núi vẫn có lửa cháy: hai tay ta cầm hai bảng đá về sự giao ước.
16. Bấy giờ, ta nh́n xem, ḱa các ngươi đă phạm tội cùng Giê-hô-va. Đức Chúa Trời các ngươi, rất vội bỏ đạo Ngài đă truyền cho, mà làm cho ḿnh một con ḅ con đúc.
17. Ta bèn nắm hai bảng đá, liệng ra khỏi tay, đập bể trước mặt các ngươi.
18. Đoạn, v́ cớ các ngươi làm dữ, phạm tội trọng trước mặt Đức Giê-hô-va, chọc cho Ngài giận, nên ta lại sấp ḿnh xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm như lần trước, không ăn bánh và chẳng uống nước.
19. V́ ta sợ cơn thạnh nộ và tức giận của Đức Giê-hô-va đă nổi phừng lên, đặng diệt các ngươi; nhưng Đức Giê-hô-va c̣n nhậm lời ta lần nầy nữa.
20. Đức Giê-hô-va cũng nổi nóng phừng cùng A-rôn, đến đỗi muốn giết người; song ta cũng cầu nguyện cho A-rôn trong lúc đó.
21. Đoạn, ta lấy vật tội lỗi của các ngươi, tức là con ḅ con mà các ngươi đă làm, đem đốt trong lửa, đập bể ra từng miếng, nghiền cho đến đỗi nó tan ra bụi, rồi đổ bụi ấy nơi khe ở trên núi chảy xuống.
22. Các ngươi cũng có chọc giận Đức Giê-hô-va tại Tha-bê-ra, tại Ma-sa, và tại Kíp-rốt-Ha-tha-va.
23. Khi Đức Giê-hô-va sai các ngươi đi từ Ca-đe-Ba-nê-a, có dặn rằng: Hăy đi lên nhận lấy xứ ta ban cho các ngươi, th́ các ngươi đă bội nghịch mạng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, không tin Ngài và không nghe theo tiếng Ngài.
24. Từ ngày ta biết các ngươi cho đến bây giờ, các ngươi thường phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va.
25. Vậy, v́ cớ Đức Giê-hô-va có phán rằng Ngài toan diệt các ngươi, nên ta cứ sấp ḿnh xuống trước mặt Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm,
26. cầu khẩn Ngài mà rằng: Chúa Giê-hô-va ôi! Xin chớ diệt dân sự của Chúa, là cơ nghiệp của Chúa, mà Chúa đă lấy sự oai nghiêm Ngài chuộc lại, và nhờ tay quyền năng rút ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
27. Xin hăy nhớ đến những tôi tớ của Chúa là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, chớ chấp sự cứng ḷng, hung dữ, và tội ác của dân nầy,
28. e dân của xứ mà Chúa đă đem chúng tôi ra khỏi đó, nói rằng: Bởi v́ Đức Giê-hô-va không thế đem dân ấy vào xứ Ngài đă hứa, và v́ Ngài ghét chúng nó, nên dẫn chúng nó ra khỏi xứ đặng giết đi trong đồng vắng.
29. Song chúng vốn là dân sự và cơ nghiệp của Chúa, mà Chúa đă dùng quyền năng lớn và cánh tay giơ thẳng ra, rút ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

Đoạn:[10]     trở về
 Môi-se giảng tiếp : hai bảng đá mới và ḥm bảng-chứng
1. Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hăy đục hai bảng đá như hai bảng trước, và hăy lên đến ta trên núi; ngươi cũng phải đóng một cái ḥm bằng cây.
2. Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đă có trên hai bảng trước mà ngươi đă đập bể, rồi để hai bảng nầy trong ḥm.
3. Vậy, ta đóng một cái ḥm bằng cây si-tim, đục hai bảng đá, y như hai bảng trước, rồi đi lên trên núi, cầm hai bảng đó trong tay.
4. Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đă viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta.
5. Ta trở đi xuống núi, để hai bảng vào ḥm mà ta đă đóng, và hai bảng ấy c̣n ở tại đó, y như Đức Giê-hô-va đă phán dặn ta vậy.
6. Vả, dân Y-sơ-ra-ên đi từ Bê-rốt Bê-nê-Gia-can đến Mô-sê-ra. A-rôn qua đời và được chôn tại đó; Ê-lê-a-sa, con trai người, làm chức tế lễ thế cho người.
7. Từ đó, dân Y-sơ-ra-ên đi đến Gút-gô-đa, rồi từ Gút-gô-đa đến Dốt-ba-tha, là xứ có nhiều sông rạch.
8. Trong lúc ấy, Đức Giê-hô-va biệt chi phái Lê-vi riêng ra, đặng khiêng ḥm giao ước của Đức Giê-hô-va, chầu chực trước mặt Đức Giê-hô-va, phục sự Ngài, và nhân danh Ngài chúc phước, cho đến ngày nay.
9. Bởi cớ đó, Lê-vi không phần, không nghiệp với anh em ḿnh; Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của người y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă phán cùng người.
10. Vậy, ta ở trên núi trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm như lần đầu, và lần nầy Đức Giê-hô-va lại nhậm lời ta, bằng ḷng không diệt ngươi.
11. Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hăy đứng dậy, đi đầu dân sự, đặng chúng nó vào nhận lấy xứ mà ta đă thề cùng tổ phụ chúng nó, để ban cho chúng nó.
12. Vậy, hỡi Y-sơ-ra-ên, bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đ̣i ngươi điều chi? há chẳng phải đ̣i ngươi kính sợ Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi, đi theo các đạo Ngài, hết ḷng hết ư kính mến và phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,
13. giữ các điều răn và luật lệ của Đức Giê-hô-va, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, để ngươi được phước?
14. Ḱa, trời và các từng trời cao hơn trời, đất và mọi vật ở nơi đất đều thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
15. Chỉn Đức Giê-hô-va ưa-đẹp các tổ phụ ngươi và yêu mến; rồi trong muôn dân, Ngài đă chọn ḍng dơi họ, tức là các ngươi, y như các ngươi thấy ngày nay.
16. Vậy, hăy trừ sự ô uế của ḷng ḿnh đi, chớ cứng cổ nữa;
17. v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và Chúa của các chúa, tức là Đức Chúa Trời rất lớn, có quyền năng và đáng sợ, không thiên vị ai, chẳng nhận của hối lộ,
18. bào chữa công b́nh cho kẻ mồ côi và người góa bụa, thương người khách lạ, ban đồ ăn và áo xống cho người.
19. Vậy, các ngươi phải thương người khách lạ, v́ các ngươi đă làm khách trong xứ Ê-díp-tô.
20. Ngươi phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, phục sự Ngài, tríu mến Ngài, và chỉ danh Ngài mà thề.
21. Ấy chính Ngài là sự vinh quang ngươi và là Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đă làm những việc lớn lao và đáng kính nầy, mà mắt ngươi đă thấy.
22. Khi tổ phụ ngươi xuống xứ Ê-díp-tô, số có bảy mươi người; c̣n bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă làm cho ngươi nhiều bằng số sao trên trời vậy.

Đoạn:[11]   trở về
 Lời hứa và lời hăm dọa. Sự phước lành và sự rủa sả đặt trước mặt dân sự
1. Ngươi phải kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và hằng ǵn giữ điều Ngài truyền ngươi phải ǵn giữ, tức là luật lệ, mạng lịnh, và điều răn của Ngài.
2. Ngày nay, các ngươi hăy nh́n biết (v́ ta không nói cùng con trẻ các ngươi, bởi chúng nó chẳng biết chi, và cũng chẳng thấy chi) những lời răn dạy của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, sự oai nghiêm Ngài, cánh tay quyền năng giơ thẳng ra của Ngài,
3. những phép lạ và công việc Ngài làm ra giữa xứ Ê-díp-tô mà hại Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, và toàn xứ người.
4. Hăy nhận biết điều Ngài làm cho đạo binh Ê-díp-tô, ngựa và xe Ê-díp-tô, trong khi chúng đuổi theo các ngươi, bị Đức Giê-hô-va lấp nước Biển đỏ lại, và hủy diệt chúng nó đến ngày nay;
5. việc Ngài đă làm cho các ngươi trong đồng vắng cho đến khi tới chốn nầy;
6. và cũng hăy nhận biết điều Ngài làm cho Đa-than, A-bi-ram, con trai Ê-li-áp, cháu Ru-bên, khi đất tại giữa cả Y-sơ-ra-ên hả miệng nuốt hai người, gia quyến, luôn với trại và mọi vật chi theo họ.
7. V́ tận mắt các ngươi đă thấy hết thảy những việc lớn mà Đức Giê-hô-va đă làm.
8. Vậy, phải ǵn giữ hết thảy điều răn mà ta truyền cho các ngươi ngày nay, để các ngươi được mạnh mẽ, vào nhận lấy xứ mà ḿnh sẽ chiếm được,
9. hầu cho các ngươi sống lâu ngày trên đất mà Đức Giê-hô-va đă thề ban cho tổ phụ các ngươi, và cho ḍng dơi của họ, tức là xứ đượm sữa và mật.
10. V́, xứ ngươi sẽ vào nhận lấy chẳng phải như xứ Ê-díp-tô, là nơi ḿnh đă ra khỏi; tại nơi ấy ngươi gieo mạ và phải nhờ lấy chân ḿnh mà tuới, như một vườn rau cỏ;
11. nhưng xứ các ngươi sẽ đi vào nhận lấy đó, là một xứ có núi và trũng, nhờ mưa trời mà được thấm tưới.
12. Ấy là một xứ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi săn sóc, mắt Ngài hằng đoái xem nó từ đầu năm đến cuối.
13. Vậy, nếu các ngươi chăm chỉ nghe các điều răn ta truyền cho các ngươi ngày nay, hết ḷng, hết ư kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và phục sự Ngài,
14. th́ ta sẽ cho mưa mùa thu và mưa mùa xuân xuống thuận th́ tại trong xứ các ngươi; ngươi sẽ thâu góp ngũ cốc, rượu, và dầu của ngươi.
15. Ta cũng sẽ khiến đồng ruộng ngươi sanh cỏ cho súc vật ngươi; ngươi sẽ ăn và được no nê.
16. Các ngươi khá cẩn thận, kẻo ḷng ḿnh bị dụ dỗ, xây bỏ Chúa, mà hầu việc các thần khác, và qú lạy trước mặt chúng nó chăng;
17. e cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va sẽ phừng lên cùng các ngươi, Ngài đóng các từng trời lại, nên nỗi chẳng có mưa nữa, đất không sanh sản: như vậy, các ngươi sẽ vội chết mất trong xứ tốt tươi nầy, là xứ mà Đức Giê-hô-va ban cho các ngươi.
18. Vậy, hăy cất để trong ḷng và trong trí ḿnh những lời ta nói cùng các ngươi, đeo nó như một dấu nơi tay, như một ấn chí giữa hai con mắt.
19. Hăy dạy nó lại cho con cái ḿnh, nói đến hoặc khi ngươi ngồi ở trong nhà hay là đi đường, hoặc khi ngươi nằm hay là  trỗi dậy.
20. Cũng phải ghi các lời ấy trên cột nhà và trên cửa ḿnh,
21. hầu cho những ngày của các ngươi và của con cái các ngươi được nhiều thêm trong xứ mà Đức Giê-hô-va đă thề ban cho tổ phụ các ngươi, y như những ngày của trời ở trên đất.
22. V́ nhược bằng các ngươi cẩn thận ǵn giữ hết thảy điều răn nầy mà ta truyền cho các ngươi phải làm lấy, kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, đi theo các đạo Ngài, và tríu mến Ngài,
23. th́ Đức Giê-hô-va sẽ đuổi những dân tộc nầy ra khỏi trước mặt các ngươi, khiến các ngươi thắng được dân tộc lớn và mạnh hơn ḿnh.
24. Phàm nơi nào bàn chân các ngươi sẽ đạp đến, đều thuộc về các ngươi. Giới hạn các ngươi sẽ chạy từ đồng vắng tới Li-ban, từ sông Ơ-phơ-rát đến biển tây.
25. Chẳng ai đứng nổi được trước mặt các ngươi; Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi sẽ rải sự kinh khủng và sợ hăi trong khắp xứ các ngươi sẽ đạp chân lên, y như Ngài đă phán.
26. Ḱa, ngày nay ta đặt trước mặt các ngươi sự phước lành và sự rủa sả:
27. sự phước lành, nếu các ngươi nghe theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, mà ta truyền cho ngày nay;
28. sự rủa sả, nếu các ngươi không nghe theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, nhưng xây bỏ đường ta chỉ cho ngày nay, đặng đi theo các thần khác mà các ngươi không hề biết.
29. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi khiến ngươi vào xứ đặng nhận lấy, th́ phải rao sự chúc lành trên núi Ga-ri-xim, và sự chúc dữ trên núi Ê-banh.
30. Hai núi nầy há chẳng phải ở bên kia sông Giô-đanh, qua khỏi đường tây, tại đất dân Ca-na-an ở trong đồng ruộng, đối ngang Ghinh-ganh, gần những cây dẻ bộp của Mô-rê sao?
31. V́ các ngươi sẽ đi ngang qua sông Giô-đanh, đặng vào nhận lấy xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi ban cho; các ngươi sẽ lấy xứ làm sản nghiệp và ở tại đó.
32. Vậy, phải cẩn thận làm theo hết thảy những luật lệ và mạng lịnh mà ngày nay ta đặt trước mặt các ngươi.

Đoạn:[12]    trở về
 Răn phải phục sự Đức Giê-hô-va trong nơi Ngài chọn
1. Nầy là những luật lệ và mạng lịnh mà trọn đời ḿnh sống trên đất các ngươi phải ǵn giữ làm theo trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi đă ban cho ngươi nhận lấy.
2. Phàm nơi nào những dân tộc, mà các ngươi sẽ đuổi đi, đă hầu việc các thần chúng nó, hoặc trên núi cao, hoặc trên nổng hay là dưới cây xanh, th́ các ngươi phải hủy diệt sạch hết đi.
3. Phải phá đổ bàn thờ, đập bể pho tượng, và thiêu những trụ A-sê-ra của chúng nó trong lửa; lại làm tan nát những tượng chạm về các thần chúng nó, và xóa tên các thần ấy cho khỏi chỗ đó.
4. Chớ tùy tục chúng nó mà phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi;
5. song nơi nào trong những chi phái các ngươi, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi sẽ chọn, đặng đặt danh Ngài, tức là nơi ngự của Ngài, th́ các ngươi phải t́m đi đến đó,
6. đem dâng tại đó những của lễ thiêu, các hi sinh, thuế một phần mười, lễ vật dâng giơ lên, của lễ hoàn nguyện, của lễ lạc ư, và các con đầu ḷng của bầy ḅ và chiên;
7. rồi các ngươi sẽ ăn tại đó, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, vui vẻ cùng gia quyến ḿnh, v́ mọi việc tay ḿnh làm đă được Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho.
8. Chớ làm như chúng ta làm ngày nay đây, là mỗi người làm tùy ư ḿnh tưởng là phải;
9. v́ các ngươi chưa vào nơi an nghỉ, và chưa hưởng lấy cơ nghiệp mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.
10. Vậy, các ngươi sẽ đi ngang qua sông Giô-đanh, ở trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi ban cho làm sản nghiệp. Ngài sẽ ban sự b́nh an cho các ngươi, không để kẻ thù nghịch xung quanh hăm áp, và khiến cho các ngươi được ở yên ổn.
11. Bấy giờ, sẽ có một chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi chọn, đặng cho danh Ngài ở; ấy là nơi các ngươi sẽ đem dâng mọi điều ta dặn các ngươi, tức là những của lễ thiêu, các hi sinh, thuế một phần mười, lễ vật dâng giơ lên, và mọi của lễ tốt nhất, mà các ngươi hứa nguyện dâng cho Đức Giê-hô-va.
12. Các ngươi, con trai, con gái, tôi trai, và tớ gái của các ngươi sẽ vui vẻ trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, luôn với người Lê-vi ở trong thành các ngươi, v́ người không có phần, cũng không hưởng nghiệp chung với các ngươi.
13. Khá coi chừng, chớ dâng của lễ thiêu ḿnh trong những nơi nào ngươi thấy;
14. nhưng phải dâng tại nơi Đức Giê-hô-va sẽ chọn trong một của các chi phái ngươi, và tại đó ngươi phải làm mọi điều ta truyền dặn.
15. Song trong các thành ḿnh, ngươi được mặc ư giết những thú vật và ăn thịt nó, tùy theo sự phước lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban cho ngươi; vô luận người bị ô uế hay là người được tinh sạch sẽ đều ăn thịt nó như ăn con hoàng dương và con nai đực.
16. Chỉ các ngươi chớ ăn huyết; phải đổ huyết trên đất như nước vậy.
17. Của thuế một phần mười về ngũ cốc, về rượu hay là dầu, cùng những con đầu ḷng của bầy ḅ hay chiên, vật chi ngươi hứa nguyện dâng lên, các của lễ lạc ư, hay là lễ vật dâng giơ lên, th́ các ngươi chẳng nên ăn tại trong các thành ḿnh.
18. Nhưng ngươi, các con trai, con gái, tôi trai, và tớ gái ngươi, cùng người Lê-vi ở trong thành ngươi, phải ăn những vật ấy trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tại chỗ Ngài sẽ chọn; ngươi sẽ vui vẻ trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, về mọi việc tay ngươi đă làm.
19. Trọn đời ngươi ở trong xứ, khá giữ ḿnh, chớ bỏ bê người Lê-vi.
20. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă mở rộng bờ cơi ngươi, y như Ngài đă phán, và v́ ngươi ước ao ăn thịt, nên nói: Tôi muốn ăn thịt! Th́ khá tùy ư ăn lấy.
21. Nếu chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă chọn đặng đặt danh, Ngài cách xa ngươi, ngươi được giết ḅ hay chiên mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi, y như ta dặn; rồi tùy ư ngươi muốn, ăn lấy nó trong thành ḿnh.
22. Phải ăn thịt ấy như ăn con hoàng dương và con nai đực; vô luận người bị ô uế hay là người tinh sạch cũng đều ăn cả.
23. Song phải giữ ḿnh, chớ ăn huyết; v́ huyết là sự sống, nên chớ ăn thịt luôn với sự sống.
24. Ngươi chớ ăn huyết: phải đổ nó trên đất như nước.
25. Đừng ăn huyết, hầu ngươi và con cháu ngươi được phước, bởi v́ có làm điều ngay thẳng trước mặt Đức Giê-hô-va.
26. C̣n về thú vật ngươi biệt riêng ra thánh, hay là hứa nguyện dâng lên, th́ phải đem nó theo ḿnh đến nơi Đức Giê-hô-va đă chọn,
27. dâng thịt và huyết nó làm của lễ thiêu trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; c̣n huyết các con sinh khác, th́ phải đổ trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đoạn mới ăn thịt nó.
28. Hăy giữ và nghe các điều nầy mà ta dặn biểu ngươi, để ngươi và con cháu ngươi được phước đời đời, bởi v́ làm điều tốt lành và ngay thẳng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
29. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă diệt khỏi trước mặt ngươi những dân tộc mà ngươi đi đến đặng đuổi đi đó, khi ngươi đă đuổi chúng nó rồi, và được ở trong xứ chúng nó,
30. th́ hăy giữ lấy ḿnh, kẻo sau khi chúng nó đă bị diệt khỏi trước mặt ngươi, ngươi sa vào bẫy, bắt chước chúng nó, cầu các thần chúng nó mà hỏi rằng: Các dân tộc nầy phục sự các thần ḿnh thế nào? Ta cũng muốn làm theo vậy nữa.
31. Ngươi chớ phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi như vậy, v́ mọi điều Đức Giê-hô-va lấy làm gớm ghiếc và ghét, th́ chúng nó đă làm cho các thần ḿnh; đến nỗi chúng nó thiêu con trai và con gái ḿnh trong lửa, để cúng thờ các thần ḿnh.
32. Các ngươi khá cẩn thận làm theo mọi điều ta dặn biểu các ngươi: chớ thêm hay là bớt chi hết.

Đoạn:[13]    trở về
 Sự phạt những tiên tri giả và kẻ nào quyến dụ dân Y-sơ-ra-ên thờ tà thần
1. Nếu giữa ngươi có nổi lên một tiên tri hay là một kẻ hay chiêm bao làm cho ngươi một dấu kỳ hoặc phép lạ,
2. nếu dấu kỳ hoặc phép lạ nầy mà người đă nói với ngươi được ứng nghiệm, và người có nói rằng: Ta hăy đi theo hầu việc các thần khác mà ngươi chẳng hề biết,
3. th́ chớ nghe lời của tiên tri hay là kẻ chiêm bao ấy, v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi thử các ngươi, đặng biết các ngươi có hết ḷng hết ư kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi chăng.
4. Các ngươi phải theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, kính sợ Ngài, ǵn giữ các điều răn Ngài, vâng nghe tiếng phán Ngài, phục sự Ngài và tríu mến Ngài.
5. Nhưng người ta phải giết tiên tri hay là kẻ chiêm bao ấy, v́ hắn có giục dấy loạn cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, (là Đấng đă đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chuộc các ngươi khỏi nhà nô lệ), đặng xô ngươi ra ngoài con đường của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă chỉ cho ngươi đi. Ấy, ngươi sẽ diệt kẻ hung ác khỏi giữa ḿnh là như vậy.
6. Khi anh em một mẹ với ngươi, hay là con trai, con gái ngươi, vợ yêu mến, hoặc bạn hữu thiết ngươi, giục ngươi cách mật nhiệm, mà rằng: Ta hăy đi hầu việc các thần khác, mà ngươi hay tổ phụ ngươi không biết,
7. tức là các thần của những dân tộc ở chung quanh, hoặc gần hay xa ngươi, từ đầu nầy của đất cho đến đầu kia,
8. th́ chớ chịu theo nó, chớ khứng nghe nó. Mắt ngươi đừng thương tiếc nó; chớ động ḷng xót xa mà che chở cho nó.
9. Ngươi hẳn phải giết nó, tay ḿnh phải tra vào ḿnh nó trước hết đặng giết đi; rồi kế sau tay của cả dân sự.
10. Phải ném đá cho nó chết, v́ nó t́m thế giục ngươi xa cách Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, là Đấng đă đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức khỏi nhà nô lệ.
11. Vậy, cả Y-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó và sợ hăi, chẳng c̣n làm một việc ác dường ấy tại giữa ngươi nữa.
12. Khi ngươi nghe nói về một trong các thành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi ở,
13. rằng có những kẻ gian tà từ giữa ḿnh ra dụ dỗ dân thành đó, mà rằng: Ta hăy đi hầu việc các thần khác mà các ngươi không hề biết,
14. th́ phải t́m kiếm, hỏi thăm, và tra xét cho kỹ càng. Bằng điều người ta nói là chân thật và quả quyết, và nếu một điều gớm ghiếc như vậy đă phạm giữa ngươi,
15. th́ ngươi phải giết dân sự thành ấy bằng lưỡi gươm; phải dùng gươm tận diệt nó và mọi vật ở trong, luôn với súc vật của nó.
16. Đoạn, ngươi phải gom hết thảy của cướp lại giữa phố thành, rồi đốt hết thành và hết mọi của cướp nó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, th́ nó sẽ thành một đống hư tàn măi măi, không hề được cất lại nữa.
17. Phàm vật đáng tận diệt, chẳng nên c̣n ǵ dính lại mảy may nơi tay ngươi, để khi ngươi vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ǵn giữ các điều răn Ngài, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, và làm điều ngay thẳng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,
18. th́ Đức Giê-hô-va nguôi cơn giận Ngài, làm ơn cho, và đoái thương ngươi, khiến cho ngươi thêm nhiều lên, y như Ngài đă thề cùng tổ phụ ngươi.

Đoạn:[14]    trở về
 Luật về sự tang chế, về loài vật sạch và không sạch, về thuế một phần mừơi
1. Các ngươi là con cái Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi. Chớ v́ người chết mà cắt thịt ḿnh, hoặc cạo giữa hai con mắt;
2. bởi ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; Đức Giê-hô-va đă chọn ngươi trong các dân trên mặt đất, hầu ngươi làm dân riêng của Ngài.
3. Chớ ăn một vật chi gớm ghiếc.
4. Nầy những loài vật mà các ngươi được ăn: con ḅ, con trừu, con dê cái,
5. con nai đực, con hoàng dương, con hươu đực, con dê rừng, con sơn dương, con ḅ rừng, và con linh dương.
6. Trong những loài vật, các ngươi được ăn con nào có móng rẽ ra, chân chia hai và nhơi,
7. nhưng trong những con vật nhơi có móng rẽ ra và chân chia hai, nầy là những con các ngươi không phép ăn: con lạc đà, con thỏ rừng, và con thỏ nhà, chúng nó nhơi; song không có móng rẽ ra: phải cầm nó là không sạch cho các ngươi.
8. Con heo cũng vậy; v́ nó có móng rẽ ra, nhưng không nhơi: phải cầm nó là không sạch cho các ngươi. Chớ ăn thịt của các con vật đó, và chớ đụng đến xác chết chúng nó.
9. Phàm loài nào ở trong nước, có mang và có vảy, th́ các ngươi được ăn;
10. nhưng con nào không có mang, không có vảy, th́ chẳng nên ăn; phải cầm là không sạch cho các ngươi.
11. Các ngươi được ăn mọi con chim sạch.
12. Song, nầy là những con các ngươi không nên ăn: chim ưng, chim ngạc, con kên kên;
13. con diều, con ó, và mọi thứ lăo ưng;
14. mọi thứ quạ;
15. chim đà điểu, con tu hú, chim thủy kê, và mọi thứ ḅ cắc;
16. chim mèo, chim ụt, con hạc,
17. chim thằng bè, con c̣ng cộc, chim thằng cộc,
18. con c̣, và mọi thứ diệc; chim rẽ quạt và con dơi.
19. Mọi loài côn trùng hay bay sẽ là không sạch cho các ngươi; chớ nên ăn.
20. Các ngươi được ăn mọi con chim sạch.
21. Các ngươi chớ ăn một con thú nào chết tự nhiên. Hăy đưa nó cho người khách ngụ trong thành ḿnh, và người ấy sẽ ăn nó, hay là ḿnh cũng được bán cho người ngoại bang. V́ ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi. Ngươi chớ nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó.
22. Mỗi năm ngươi chớ quên đóng thuế một phần mười về huê lợi của giống ḿnh gieo, mà đồng ruộng ḿnh sanh sản.
23. Tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, trong nơi Ngài sẽ chọn đặng để danh Ngài ở, ngươi phải ăn vật thuế một phần mười về ngũ cốc, rượu, dầu, và con đầu ḷng của bầy ḅ hay chiên của ngươi, hầu cho ngươi tập hằng kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
24. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă ban phước cho, nếu đường đi lấy làm xa quá cho ngươi, đến nỗi không thế đem nộp của thuế một phần mười ấy được,( v́ chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi chọn để đặt danh Ngài, cách xa ngươi,)
25. th́ bấy giờ, ngươi hăy đổi thuế một phần mười đó ra bạc, cầm bạc nầy trong tay, đi đến nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă chọn,
26. rồi đưa bạc ấy đổi lấy mọi thức chi ḿnh ước ao, hoặc ḅ hay chiên, hoặc rượu hay là đồ uống say, tức là mọi món chi ḿnh muốn. Ngươi phải ăn nó tại đó, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và vui vẻ với gia quyến ḿnh.
27. Chớ bỏ bê người Lê-vi ở trong thành ngươi, v́ người không có phần, cũng không hưởng cơ nghiệp chi chung với ngươi.
28. Cuối hạn ba năm, ngươi phải lấy một phần mười của huê lợi năm ấy ra, chứa tại trong thành ḿnh.
29. Bấy giờ, người Lê-vi, vốn không có phần chi, cũng chẳng hưởng cơ nghiệp chi chung với ngươi, luôn với người khách, kẻ mồ côi, và người góa bụa ở trong thành ngươi, sẽ đều đến ăn cho no nê, hầu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho mọi công việc tay ngươi đă làm.

Đoạn:[15]    trở về
  Năm giải thích. Sự cứu giúp kẻ nghèo. Về tôi tớ Hơ-bơ rơ. Về con đầu ḷng của súc vật.
1. Cuối mỗi năm thứ bảy, ngươi phải làm năm giải thích.
2. Nầy là lệ của sự giải thích. Phàm chủ nợ phải giải thích món vay mà ḿnh đă chịu cho kẻ lân cận ḿnh vay: ngươi chớ thúc kẻ lân cận ḿnh hay là anh em ḿnh trả lại, v́ người ta đă cáo rao năm giải thích cho Đức Giê-hô-va.
3. Ngươi được thúc người ngoại bang trả lại; song ví anh em ngươi có vật chi thuộc về ḿnh, th́ phải tha vật ấy cho người.
4. Nhưng nơi ngươi chẳng nên có kẻ nghèo nàn, v́ Đức Giê-hô-va sẽ quả hẳn ban phước cho ngươi trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy làm sản nghiệp,
5. miễn ngươi chăm chỉ nghe theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, cẩn thận làm theo các điều răn mà ta truyền cho ngươi ngày nay.
6. V́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban phước cho ngươi, y như Ngài đă phán; ngươi sẽ cho nhiều nước vay, c̣n chánh ngươi không vay ai; ngươi sẽ quản hạt nhiều nước, song các nước ấy sẽ chẳng quản hạt ngươi.
7. Nếu trong thành nào của xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho, ở giữa ngươi có một người anh em bị nghèo, th́ chớ cứng ḷng nắm tay lại trước mặt anh em nghèo của ḿnh đó.
8. Nhưng khá sè tay ḿnh ra, cho người vay món chi cần dùng trong sự nghèo nàn của người.
9. Khá coi chừng, kẻo có một ác tưởng nơi ḷng ngươi, rằng: Năm thứ bảy tức là năm giải thích, hầu gần! Khá coi chừng kẻo mắt ngươi chẳng đoái thương anh em nghèo của ḿnh, không giúp cho người ǵ hết, e người kêu cùng Đức Giê-hô-va về ngươi, và ngươi sẽ mắc tội chăng.
10. Ngươi phải giúp cho người, chớ cho mà có ḷng tiếc; v́ tại cớ ấy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban phước cho mọi công việc của ngươi, và mọi điều ngươi đặt tay vào mà làm.
11. V́ sẽ có kẻ nghèo trong xứ luôn luôn, nên ta mới dặn biểu ngươi mà rằng: Khá sè tay ḿnh ra cho anh em bị âu lo và nghèo khó ở trong xứ ngươi.
12. Khi một trong các anh em ngươi, là người Hê-bơ-rơ, bất luận nam hay nữ, bị bán cho ngươi, th́ sẽ hầu việc ngươi trong sáu năm, song qua năm thứ bảy, ngươi phải giải phóng người.
13. Khi ngươi giải phóng người, chớ cho người đi ra tay không.
14. Phải cấp cho người một vật chi, hoặc trong bầy ḿnh, hoặc của sân đạp lúa ḿnh, hoặc của hầm rượu ḿnh, tức là cấp cho người vật bởi trong của cải mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă ban phước cho ngươi.
15. Hăy nhớ rằng ḿnh đă làm tôi mọi trong xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă chuộc ngươi; bởi cớ ấy, ngày nay ta truyền cho ngươi làm các điều nầy.
16. Nhưng nếu kẻ tôi mọi ngươi nói rằng: Tôi không muốn đi ra khỏi nhà chủ, (v́ nó mến ngươi và gia quyến ngươi, lấy làm thỏa ḷng phục dịch ngươi,)
17. th́ bấy giờ, ngươi phải lấy một cái dùi, để tai người kề cửa mà xỏ, vậy người sẽ làm tôi tớ ngươi luôn luôn. Ngươi cũng phải làm như vậy cho tớ gái ḿnh.
18. Ngươi chớ có nặng ḷng mà giải phóng người, v́ người đă phục dịch ngươi sáu năm, ăn phân nửa công giá của một người làm mướn; vậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban phước cho ngươi trong mọi công việc ngươi làm.
19. Ngươi phải biệt riêng ra thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mọi con đầu ḷng đực sanh trong bầy ḅ hay chiên của ngươi. Chớ cày bằng con đầu ḷng của ḅ cái ḿnh, và chớ hớt lông con đầu ḷng của chiên cái ḿnh.
20. Mỗi năm, ngươi và gia quyến ngươi sẽ ăn nó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tại nơi mà Ngài sẽ chọn.
21. Nhưng nếu nó có t́ vít chi, què hay đui, hoặc bị tật nặng khác, th́ chớ dâng nó cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,
22. phải ăn nó trong thành ḿnh: kẻ bị ô uế, và kẻ được sạch cũng đều được ăn hết, như ăn con hoàng dương hay là con nai đực.
23. Chỉn ngươi chớ ăn huyết nó; phải đổ huyết trên đất như nước vậy.

Đoạn:[16] trở về
 Lễ Vượt qua
1. Hăy giữ tháng lúa trỗ làm lễ Vượt-qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, v́ ấy trong tháng lúa trỗ, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đang ban đêm đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
2. Tại trong nơi mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn để danh Ngài ở, ngươi phải dùng con sinh bằng bầy chiên và bầy ḅ, dâng làm lễ Vượt-qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
3. Với lễ Vượt-qua, chớ ăn bánh pha men; trong bảy ngày ngươi sẽ ăn bánh không men, tức là bánh hoạn nạn, đặng giữ lễ ấy, v́ ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô vội vàng; hầu cho trọn đời ngươi nhớ ngày ḿnh đă ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
4. Trong bảy ngày, không nên thấy men nơi nhà ngươi, hay trong khắp địa phận ngươi, thịt con sinh mà ngươi đă giết lúc chiều của ngày thứ nhất, th́ chớ để đến sáng mai.
5. Ngươi không được giết con sinh về lễ Vượt-qua trong một thành nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi;
6. nhưng chỉ trong nơi mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn để danh Ngài ở; ấy là nơi mà ngươi phải giết con sinh về lễ Vượt-qua, vào lối chiều, vừa khi mặt trời lặn, nhằm giờ mà ngươi đă ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
7. Phải nấu thịt con sinh, và ăn tại trong nơi mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn, rồi sáng mai trở về trại ḿnh.
8. Trong sáu ngày, ngươi phải ăn bánh không men, và qua ngày thứ bảy, sẽ có một lễ trọng thể cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: ngươi chớ làm một công việc nào.

   
Lễ bảy tuần
9. Ngươi phải đếm bảy tuần; khởi đến bảy tuần nầy từ ngày người ta tra cái lưỡi hái vào mùa gặt;
10. kế ngươi sẽ giữ lễ bảy tuần cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi do tay ḿnh đem dâng của lễ lạc ư, tùy theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho ngươi.
11. Ngươi, con trai, con gái ngươi, tôi trai và tớ gái ngươi, người Lê-vi ở trong thành ngươi, người khách lạ, kẻ mồ côi và người góa bụa ở giữa ṿng ngươi, đều sẽ vui vẻ tại trong chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn để danh Ngài ở.
12. Phải nhớ lại rằng ḿnh đă làm tôi mọi tại xứ Ê-díp-tô, và khá cẩn thận làm theo các luật lệ nầy.
     
Lễ lều tạm
13. Khi ngươi đă thâu huê lợi của sân đạp lúa và hầm rượu ḿnh rồi, th́ phải giữ lễ lều tạm trong bảy ngày.
14. Ngươi, con trai và con gái ngươi, tôi trai và tớ gái ngươi, người Lê-vi, khách lạ, kẻ mồ côi, và người góa bụa đều sẽ vui vẻ mà giữ lễ đó.
15. Trong bảy ngày ngươi phải giữ lễ nầy cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tại nơi mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn; v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban phước cho các mùa màng và mọi công việc của tay ngươi; rồi ngươi sẽ vui mừng trọn vẹn.
16. Mọi người nam trong các ngươi, mỗi năm ba lần, phải ra mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tại nơi mà Ngài sẽ chọn: tức là nhằm lễ bánh không men, lễ bảy tuần và lễ lều tạm; người ta chẳng nên đi tay không ra mắt Đức Giê-hô-va.
17. Mỗi người sẽ dâng tùy theo của ḿnh có, tùy theo phước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.

 
Phép xử đoán
18. Ngươi phải tùy từng chi phái ḿnh lập những quan án trong các thành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi; những quan án ấy sẽ xử đoán dân sự cách công b́nh.
19. Ngươi chớ làm dịch sự chánh trực, chớ thiên vị ai, cũng chẳng nên nhận của hối lộ; v́ của hối lộ làm cho mù mắt kẻ khôn ngoan, và làm rối lời của người công b́nh.
20. Ngươi phải theo sự công b́nh cách trọn vẹn, để ngươi được sống và nhận lấy xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.

Cấm thờ h́nh tượng
21. Gần bên bàn thờ mà ngươi sẽ lập cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, chớ dựng lên h́nh tượng của thần A-sê-ra bằng thứ cây nào.
22. Cũng chẳng nên dựng lên một trụ thờ nào: Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi lấy làm ghét các vật ấy.

Đoạn:[17]    trở về
 H́nh phạt tội thờ tà thần. Sự phán xét giao cho thầy tế lễ
1. Ngươi chớ dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi con ḅ đực, hoặc con chiên có t́ vít, hay một tật chi; v́ ấy là một sự gớm ghiếc cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
2. Khi ở giữa ngươi, trong một thành nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi, có một người nam hay nữ làm điều ác trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vi phạm giao ước Ngài,
3. đi hầu việc và qú lạy các thần khác, hoặc mặt trời, mặt trăng, hay là cả thiên binh,( tức là điều ta không có dạy biểu;)
4. khi điều đó đem học cho ngươi hay, th́ phải tra hỏi kỹ càng, và nếu điều người ta nói là thật, và quả quyết có một sự gớm ghê dường ấy đă phạm trong Y-sơ-ra-ên,
5. th́ ngươi phải dẫn người nam hay nữ đă làm việc ác đó đến cửa thành, ném đá cho chúng nó chết.
6. Cứ theo lời của hai hoặc ba người chứng mới xử tử kẻ đáng bị chết; nhưng cứ lời của một người chứng không đủ xử tử người.
7. Tay của các người chứng phải tra vào ḿnh nó đầu hết, đặng làm cho nó chết, kế sau tay của cả dân sự. Như vậy, ngươi sẽ cất kẻ hung ác khỏi giữa ḿnh.
8. Khi nào trong thành ḿnh có một sự tranh tụng, hoặc v́ đổ huyết, hoặc v́ giành xé, hay là v́ thương tích, mà ngươi phân xử lấy làm khó quá, th́ phải đứng dậy, đi lên chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn,
9. đến gần những thầy tế lễ về chi phái Lê-vi, cùng người đang khi ấy làm quan án, mà hỏi han họ; họ sẽ tỏ cho ḿnh biết sự phán xét đáng định.
10. Ngươi phải làm y theo lời họ tỏ dạy cho ḿnh tại nơi Đức Giê-hô-va sẽ chọn, và khá cẩn thận làm theo mọi lời dạy của họ.
11. Phải làm theo luật pháp họ dạy cho, và sự phán xét họ giảng ra, chớ xây về bên hữu hay bên tả mà bỏ các điều giảng của họ.
12. Song người nào ở cách kiêu ngạo, không khứng vâng theo thầy tế lễ đứng tại đó đặng hầu việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, hay là không vâng quan án, th́ người đó phải chết, và ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa Y-sơ-ra-ên.
13. Cả dân sự sẽ nghe điều ấy và bắt sợ, không c̣n buông theo sự kiêu ngạo nữa.
 Sự chọn vua, và phận sự của vua
14. Khi ngươi đă vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho, được nhận lấy và ở tại xứ đó rồi, nếu ngươi nói: Tôi sẽ lập một vua lên cai trị tôi, như các dân tộc chung quanh,
15. th́ khá lập một vua lên cai trị ngươi, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn; phải lập lên một vua thuộc về anh em ngươi; chớ nên lập một người ngoại bang lên, không phải anh em ngươi.
16. Song vua ấy chẳng nên lo cho có nhiều ngựa, chớ v́ muốn thêm nhiều ngựa mà dẫn dân sự trở lại xứ Ê-díp-tô; bởi Đức Giê-hô-va đă phán cùng các ngươi rằng: Các ngươi sẽ chẳng trở về đường đó nữa.
17. Vua cũng không nên kén nhiều phi tần, e ḷng người trở xấu xa; lại chẳng nên thâu góp nhiều bạc vàng.
18. Vừa khi tức vị, vua phải chiếu theo luật pháp nầy mà những thầy tế lễ về ḍng Lê-vi giữ, chép một bổn cho ḿnh.
19. Bổn ấy phải ở bên vua trọn đời, vua phải đọc ở trong, để tập biết kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ḿnh, cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy, và hết thảy điều răn nầy,
20.( kẻo ḷng vua lướt trên anh em ḿnh, xây về bên hữu hay bên tả, ĺa bỏ điều răn nầy), hầu cho vua và con cháu vua được trị v́ lâu ngày giữa Y-sơ-ra-ên.

Đoạn:[18]    trở về
  Phép của những thầy tế lễ và người Lê-vi
1. Những thầy tế lễ về ḍng Lê-vi, và cả chi phái Lê-vi không có phần, cũng không có sản nghiệp chung với Y-sơ-ra-ên. Chúng sẽ hưởng những của tế lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, và cơ nghiệp Ngài, mà nuôi lấy ḿnh.
2. Vậy, chúng không có phần sản nghiệp giữa anh em ḿnh: Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của họ, y như Ngài đă phán.
3. Vả, nầy là phần định mà những thầy tế lễ sẽ có phép lấy trong các lễ vật của dân sự dâng lên, hoặc bằng ḅ đực hay là chiên: cái chẻo vai, cái hàm, và cái bụng.
4. Ngươi sẽ cấp cho người của đầu mùa về ngũ cốc, rượu, dầu và lông chiên hớt đầu tiên của ngươi;
5. v́ tại trong các chi phái ngươi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă chọn thầy tế lễ, để người và các con trai người nhân danh Đức Giê-hô-va chầu chực và phục sự trước mặt Ngài đời đời không dứt.
6. Khi một người Lê-vi ở bất luận thành nào chỗ nào tại trong Y-sơ-ra-ên, mà thành tâm đến nơi Đức Giê-hô-va sẽ chọn,
7. và nếu người nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ḿnh, hầu việc như hết thảy anh em ḿnh, là người Lê-vi, vẫn chầu chực tại đó trước mặt Đức Giê-hô-va,
8. th́ người sẽ có một phần lương thực bằng phần của các anh em ḿnh, không kể của người có thể bán được về của tổ-nghiệp ḿnh.
9. Khi ngươi đă vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho; chớ tập bắt chước những sự gớm ghiếc của các dân tộc ở tại đó.
10. Ở giữa ngươi chớ nên có ai đem con trai hay con gái ḿnh ngang qua lửa, chớ nên có thầy bói, hoặc kẻ hay xem sao mà bói, thầy phù thủy, thầy pháp,
11. kẻ hay dùng ếm chú, người đi hỏi đồng cốt, kẻ thuật số, hay là kẻ đi cầu vong;
12. v́ Đức Giê-hô-va lấy làm gớm ghiếc kẻ làm các việc ấy, và v́ các sự gớm ghiếc ấy, nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đuổi các dân tộc đó khỏi trước mặt ngươi.
13. Ngươi phải ở trọn vẹn với Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
14. V́ những dân tộc mà ngươi sẽ đuổi đi, nghe theo tà thuật và bói khoa; song về phần ngươi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi không cho phép ngươi làm như vậy.

     
Các đấng tiên tri
15. Từ giữa anh em ngươi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ lập lên một đấng tiên tri như ta; các ngươi khá nghe theo đấng ấy!
16. Đó là điều chính ngươi đă cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tại Hô-rếp, trong ngày nhóm hiệp, mà rằng: Cầu xin tôi chớ nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi nữa, và chớ thấy đám lửa hừng nầy nữa, e tôi chết chăng.
17. Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Chúng nó nói có lư;
18. ta sẽ lập lên cho chúng một đấng tiên tri như ngươi, thuộc trong anh em chúng, ta sẽ lấy các lời ta để trong miệng người, th́ người sẽ nói cho chúng mọi điều ta phán dặn người.
19. Bằng có ai không nghe theo lời ta mà đấng tiên tri nhân danh ta nói, th́ ta sẽ hạch ai đó.
20. C̣n kẻ tiên tri có ḷng kiêu ngạo, nhân danh ta nói điều chi ta không biểu người nói hay là nhân danh các thần khác mà nói, th́ kẻ tiên tri ấy phải chết.
21. Nếu ngươi nói trong ḷng rằng: Làm sao chúng ta nh́n biết được lời nào là lời Đức Giê-hô-va không có phán?
22. Khi kẻ tiên tri nhân danh Đức Giê-hô-va nói, ví bằng lời người nói không xảy đến và không ứng nghiệm, ấy là lời mà Đức Giê-hô-va chẳng có phán. Kẻ tiên tri đó bởi sự kiêu ngạo mà nói ra: chớ sợ người.

Đoạn:[19]    trở về
  Những thành ẩn náu. Các mộc giới của sản nghiệp
1. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă diệt các dân tộc của xứ mà Ngài ban cho ngươi, khi ngươi đă đuổi chúng nó đi, được ở trong các thành và các nhà chúng nó rồi,
2. th́ phải để riêng ba cái thành giữa xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy.
3. Ngươi phải dọn đường, chia ra làm ba phần địa phận của xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp: ấy hầu cho kẻ sát nhân ẩn núp tại đó.
4. Vả, nầy là cách mà người ta phải đăi kẻ sát nhân ẩn núp tại đó đặng bảo tồn sự sống ḿnh. Nếu ai v́ vô ư đánh chết kẻ lân cận ḿnh, không có ganh ghét trước;
5. thí dụ, nếu người đó đi cùng kẻ lân cận ḿnh vào rừng đốn củi, tay người đang giơ ŕu ra đốn, rủi lưỡi ŕu sút cán trúng nhằm kẻ lân cận, làm cho kẻ ấy bị chết đi, th́ người phải chạy ẩn núp ḿnh trong một của ba cái thành nầy, đặng bảo tồn sự sống ḿnh.
6. Bằng chẳng, kẻ báo thù huyết, v́ nóng giận chạy đuổi theo kẻ sát nhân đó, và nếu đường dài quá, theo kịp và đánh người chết đi, mặc dầu người không đáng chết, bởi từ trước người không có ganh ghét kẻ lân cận ḿnh.
7. V́ vậy, ta dặn và phán cùng ngươi rằng: Hăy để riêng ba cái thành.
8. Nếu ngươi cẩn thận làm theo các điều răn nầy mà ta truyền cho ngươi ngày nay, tức là thương mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, hằng đi theo đường lối Ngài,
9. th́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ mở rộng bờ cơi ngươi, y như Ngài đă thề cùng tổ phụ ngươi, và ban cho ngươi cả xứ mà Ngài đă hứa ban cho tổ phụ ngươi, rồi bấy giờ, ngươi phải thêm ba thành nữa vào ba thành trước;
10. hầu cho huyết vô tội không đổ ra giữa xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp, và không có huyết trên ḿnh ngươi.
11. Nhưng nếu ai ganh ghét kẻ lân cận ḿnh, gài mưu hại người, nổi lên đánh người chết, rồi chạy ẩn núp ḿnh trong một của các thành ấy,
12. th́ những trưởng lăo của thành kẻ đó, phải sai đi kéo nó ra khỏi nơi, nộp vào tay kẻ báo thù huyết, để nó chết đi.
13. Mắt ngươi sẽ không thương xót nó; nhưng phải trừ huyết người vô tội khỏi Y-sơ-ra-ên, th́ ngươi sẽ được phước.
14. Ngươi chớ dời mộc giới của kẻ lân cận ḿnh mà các tiên nhân ngươi đă cắm nơi sản nghiệp ngươi sẽ nhận được, tại xứ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy.

Các người chứng
15. Chứng độc chiếc không đủ cớ định tội cho người nào, bất luận gian ác, tội lỗi nào mà người đă phạm; cứ theo lời của hai hay ba người chứng, th́ sự mới định tội được.
16. Khi một người chứng dối dấy lên cùng kẻ nào đặng phao tội cho,
17. th́ hai đàng có tranh tụng nhau phải ứng hầu trước mặt Đức Giê-hô-va, trước mặt những thầy tế lễ và quan án làm chức đang th́ đó.
18. Các quan án phải tra xét kỹ càng, nếu thấy người chứng nầy là chứng dối, đă thưa gian cho anh em ḿnh,
19. th́ các ngươi phải làm cho hắn như hắn đă toan làm cho anh em ḿnh; vậy, ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa ḿnh.
20. C̣n những người khác hay điều đó, sẽ sợ, không làm sự hung ác như thế ở giữa ngươi nữa.
21. Mắt ngươi chớ thương xót: mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân.

Đoạn:[20]    trở về
 Khuyên về lúc chiến trận và thể-lệ về sự hăm đánh, và vây thành giặc
1. Khi nào ngươi ra giao chiến cùng thù nghịch ḿnh, nếu thấy ngựa, xe và binh đông hơn ḿnh, th́ chớ sợ; v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, là Đấng đă khiến ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, ở cùng ngươi.
2. Lúc gần khai chiến, thầy tế lễ sẽ bước tới, nói cùng dân sự
3. mà rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hăy nghe! Ngày nay các ngươi đi giao chiến cùng thù nghịch ḿnh, ḷng các ngươi chớ nhát, chớ sợ, chớ run rẩy, và chớ kinh khiếp v́ chúng nó;
4. bởi Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đấng cùng đi với các ngươi, đặng v́ các ngươi đánh kẻ thù nghịch và giải cứu cho.
5. Bấy giờ, các quan trưởng sẽ nói cùng dân sự mà rằng: Ai đă cất một nhà mới, mà chưa khánh thành? Hăy đi trở về nhà ḿnh, e chết nơi chiến trận, rồi một người khác sẽ khánh thành chăng.
6. Ai đă trồng một vườn nho và chưa hái trái? Hăy đi trở về nhà ḿnh, kẻo chết nơi chiến trận, rồi một người khác sẽ hái trái chăng.
7. Ai đă làm lễ hỏi một người nữ, mà chưa cưới? Hăy đi trở về nhà ḿnh, e chết nơi chiến trận, rồi người khác sẽ cưới nàng chăng.
8. Các quan trưởng sẽ cứ nói tiếp cùng dân sự mà rằng: Ai là người sợ và nhát? Hăy đi trở về nhà ḿnh, e ḷng của anh em ḿnh tán đởm như ḷng ḿnh chăng.
9. Vừa khi các quan trưởng nói xong với dân sự, th́ phải lập những tướng làm đầu dân sự.
10. Khi ngươi đến gần một cái thành đặng hăm, trước phải giảng ḥa cùng nó.
11. Nếu thành đó đáp ḥa và mở cửa cho ngươi, th́ toàn dân sự ở đó sẽ nạp thuế và phục dịch ngươi.
12. Ví bằng thành không khứng ḥa, nhưng khai chiến cùng ngươi, bấy giờ ngươi sẽ vây nó.
13. Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ phó nó vào tay ngươi, rồi ngươi giết hết thảy người nam bằng lưỡi gươm.
14. Song ngươi phải thâu cho ḿnh những đàn bà, con trẻ, súc vật, và mọi vật chi ở trong thành, tức là mọi của cướp được. Ngươi sẽ ăn lấy của cướp của quân nghịch mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ban cho ngươi.
15. Ngươi phải đối đăi như vậy cùng các thành ở cách xa ngươi, không thuộc về những dân tộc nầy.
16. Nhưng trong các thành của những dân tộc nầy, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp, th́ chớ để sống một vật nào biết thở;
17. khá tận diệt dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă phán dặn,
18. để chúng nó không dạy các ngươi bắt chước làm theo những sự gớm ghiếc chúng nó đă làm, đặng cúng thờ các thần chúng nó, e các ngươi phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi chăng.
19. Khi ngươi vây một thành nào lâu đặng hăm chiếm, chớ lấy ŕu chặt những cây của thành đó, v́ ngươi có thể ăn được trái nó. Vậy, chớ chặt nó; v́ cây ngoài đồng há là một người để bị ngươi vây sao?
20. Ngươi chỉ phải phá hại và chặt những cây ḿnh biết chẳng phải là cây ăn trái; hăy dùng nó cất đồn lũy để đánh thành đang làm giặc với ḿnh đó, cho đến chừng nào nó đầu hàng.

Đoạn:[21]    trở về
 Sự đền tội sát nhân không ai biết
1. Khi nào trong đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy, người ta gặp một người nam bị giết, nằm sải trên đồng, chẳng biết ai đă giết,
2. th́ các trưởng lăo và quan án của ngươi phải đi ra, đo bề xa từ người bị giết đến các thành ở chung quanh người.
3. Đoạn, các trưởng lăo của thành gần người bị giết hơn hết, phải bắt một con ḅ cái tơ, chưa làm việc hay mang ách,
4. dẫn nó đến một ḍng nước hằng chảy, gần đó không ai cày và gieo; rồi, tại nơi ấy, trong khe, vặn cổ con ḅ cái tơ.
5. Những thầy tế lễ, là con trai Lê-vi, sẽ đến gần; v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă chọn các người ấy đặng phục sự Ngài, và nhân danh Đức Giê-hô-va mà chúc phước cho; tùy lời miệng họ làm bằng, phải quyết phán các sự tranh tụng và thương tích.
6. Bấy giờ, hết thảy những trưởng lăo của thành ở gần người bị giết hơn hết, sẽ rửa tay ḿnh trên con ḅ cái tơ mới bị vặn cổ trong khe;
7. đoạn, cất tiếng nói rằng: Tay chúng tôi chẳng đổ huyết nầy ra; mắt chúng tôi chẳng thấy ǵ.
8. Lạy Đức Giê-hô-va cầu xin Ngài tha tội cho dân sự Ngài mà Ngài đă chuộc! Xin chớ kể huyết vô tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài! Rồi tội sát nhân sẽ được tha cho họ.
9. Như vậy, ngươi làm điều ngay thẳng tại trước mặt Đức Giê-hô-va, và cất huyết vô tội khỏi giữa ḿnh.

Về Những ngừơi nữ bị bắt trong cơn chiến trận
10. Khi nào ngươi ra chiến đấu cùng quân thù nghịch ḿnh, nhờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi phó chúng nó vào tay ngươi, và ngươi dẫn tù chúng nó,
11. nếu thấy trong những tù giặc một người nữ lịch sự mà ḿnh ái mộ muốn lấy làm vợ,
12. th́ phải dẫn nàng về nhà ḿnh. Nàng sẽ cạo đầu ḿnh, cắt móng tay;
13. lột áo tù, và ở trong nhà ngươi khóc cha mẹ ḿnh trong một tháng; kế ấy, ngươi sẽ đến cùng nàng, làm chồng nàng, và nàng sẽ làm vợ ngươi.
14. Nếu ngày sau ngươi không ưa nàng nữa, nàng muốn đi đâu, th́ phải cho nàng đi mặc ư, và v́ ngươi đă lấy nàng làm vợ, nên chẳng khá bán nàng lấy tiền, hay đăi nàng như nô lệ.
15. Khi một người nam nào có hai vợ, vợ nầy được thương, vợ kia bị ghét, song cả hai đều có sanh con cho ngươi, và con trưởng nam thuộc về vợ bị ghét,
16. khi ngươi chia sản nghiệp cho các con ḿnh, th́ chẳng được phép trao quyền trưởng nam cho con trai của vợ được thương thế cho con trai của vợ bị ghét, bởi nó vốn là trưởng nam.
17. Nhưng ngươi phải nhận con trai của vợ bị ghét làm con đầu ḷng, chia một phần bằng hai về mọi vật thuộc về ḿnh; v́ nó vốn là sự đầu tiên của sức mạnh ngươi; quyền trưởng nam thuộc về nó vậy.

Sự trừng trị các con bội nghịch
18. Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời,
19. th́ cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lăo của thành ḿnh, tại nơi cửa thành.
20. Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lăo của thành ḿnh rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa.
21. Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa ḿnh, và cả Y-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ.

Luật về thây của kẻ bị xử tử
22. Khi một người nào phạm tội đáng chết, th́ hăy giết nó, và treo lên trụ h́nh,
23. thây nó chớ để treo trên trụ h́nh cách đêm, song phải chôn trong nội ngày đó; v́ kẻ nào bị treo ắt bị Đức Chúa Trời rủa sả. Như vậy, ngươi chẳng làm ô uế đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp.

Đoạn:[22]    trở về
 Bổn phận về sự nhân từ. Các luật khác.
1. Nếu ngươi thấy ḅ hay là chiên của anh em ḿnh bị lạc, th́ chớ làm bộ chẳng thấy, phải dẫn nó về cho anh em ḿnh.
2. Ví bằng anh em ngươi không ở gần ngươi, và ngươi không quen biết người, th́ phải dắt ḅ, chiên đó vào nhà ngươi, cho đến chừng anh em ngươi đến kiếm, bấy giờ, phải trả nó lại cho.
3. Ngươi làm như vậy cho con lừa, áo xống hay là mọi vật chi của anh em ngươi mất, là ngươi xí được; chớ làm bộ không thấy.
4. Nếu ngươi thấy lừa hay ḅ của anh em ḿnh té trên đường, chớ làm bộ không thấy; khá đỡ nó đứng dậy.
5. Người nữ không phép mặc quần áo của người nam, và người nam cũng chẳng được mặc quần áo của người nữ; v́ ai làm điều đó lấy làm gớm ghiếc cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
6. Khi ngươi gặp ngoài đường, hoặc ở trên cây, hoặc ở dưới đất, một ổ chim với con hay là trứng, mẹ đương ấp con hay là trứng th́ chớ bắt chim mẹ luôn với chim con.
7. Phải để cho chim mẹ đi, bắt con cho phần ḿnh, để ngươi được phước và sống lâu.
8. Khi ngươi cất một cái nhà mới, th́ phải làm câu-lơn nơi mái nhà, kẻo nếu người nào ở trên đó té xuống, ngươi gây cho nhà ḿnh can đến huyết chăng.
9. Chớ trồng vườn nho ḿnh hai thứ con giâm, e hết thảy hoặc con giâm ngươi đă trồng, hay là hoa lợi của vườn nho, đều thuộc về nơi thánh.
10. Chớ cày bằng một con ḅ thắng chung với một con lừa.
11. Chớ mặc bằng vải gai pha lộn, lông chiên và gai với nhau.
12. Ngươi phải kết tua nơi bốn chéo áo choàng của ḿnh mặc.
13. Khi một người nam đă cưới vợ, ăn ở cùng nàng, rồi sau lại ghét đi,
14. phao cho những chuyện khiến nàng mất danh giá, và gièm siểm nàng, mà rằng: Tôi có lấy người nữ đó, khi đă đến gần, thấy không c̣n đồng trinh,
15. bấy giờ, cha mẹ của người gái đó sẽ lấy và bày ra những dấu đồng trinh của nàng trước mặt các trưởng lăo thành đó, tại nơi cửa thành.
16. Người cha của người gái sẽ nói cùng các trưởng lăo rằng: Tôi có gả con gái tôi cho người nầy làm vợ, mà người lại ghét nó:
17. nầy người phao những chuyện gây cho nó mất danh giá, mà rằng: Tôi không thấy con gái ông c̣n đồng trinh. Vả, nầy là các dấu về sự đồng trinh của con gái tôi. Rồi cha mẹ sẽ trải áo xống nàng trước mặt các trưởng lăo của thành đó.
18. Bấy giờ, các trưởng lăo thành đó sẽ bắt người chồng mà đánh phạt,
19. và bởi v́ có gièm siểm một người đồng trinh của Y-sơ-ra-ên, nên sẽ bắt vạ người một trăm siếc-lơ bạc, và giao cho cha người gái. Nàng sẽ làm vợ người, và người chẳng phép đuổi nàng đi ngày nào người c̣n sống.
20. Nhưng nếu chuyện người nói là thật, nàng chẳng phải đồng trinh,
21. th́ các trưởng lăo phải dẫn nàng ra đến cửa nhà cha nàng, bá tánh của thành ấy sẽ lấy đá ném cho nàng chết, v́ nàng có phạm tội gian ác tại Y-sơ-ra-ên, mà hành dâm trong nhà cha ḿnh. Ấy, ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa ḿnh là như vậy.
22. Khi người ta gặp một người nam nằm cùng một người nữ có chồng, th́ người nam luôn với người nữ, cả hai đều phải bị chết. Ấy, ngươi sẽ cất sự ác khỏi Y-sơ-ra-ên là như vậy.
23. Khi một con gái đồng trinh đă hứa gả cho một người nào, và có một người khác gặp nàng trong thành và nằm cùng,
24. th́ các ngươi phải dẫn cả hai người ra cửa thành đó, lấy đá ném cho cả hai đều chết: con gái trẻ, bởi v́ không có la lên trong thành, người con trai, bởi v́ làm mất danh giá vợ người lân cận ḿnh. Ấy, ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa ḿnh là như vậy.
25. Nhưng nếu người nam gặp con gái hứa gả tại trong đồng ruộng, hành hung nằm với nàng, th́ chỉ người nam phải chết một ḿnh mà thôi;
26. chớ làm điều chi cho con gái trẻ đó, v́ nàng không có phạm tội đáng chết. Việc nầy giống như sự một người dấy lên cùng kẻ lân cận ḿnh và giết người đi;
27. v́ người nam gặp con gái trẻ đă hứa gả đó ở ngoài đồng: nàng có thế la lên, mà không ai giải cứu.
28. Nếu một người nam gặp một con gái trẻ đồng trinh, chưa hứa gả, bắt nàng nằm cùng, mà người ta gặp tại trận,
29. th́ người nam đă nằm cùng con gái trẻ đó phải nạp cho cha nàng năm mươi siếc-lơ bạc, rồi nàng sẽ làm vợ người, bởi v́ người có làm nhục nàng. Người c̣n sống ngày nào, th́ chẳng được phép đuổi nàng đi.
30. Chẳng ai nên lấy vợ kế của cha ḿnh, cũng đừng dở vạt áo của cha ḿnh.

Đoạn:[23]    trở về
  Luật về ngừơi không được vào những hội thánh, về sự tinh sạch về tôi tớ trốn, về kỵ nữ .v.v..
1. Người hoạn, hoặc v́ ngoại thận bị dập, hay là bị cắt, sẽ không được phép vào hội của Đức Giê-hô-va.
2. Con ngoại t́nh không được phép vào hội của Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng vào được.
3. Dân Am-môn và dân Mô-áp sẽ không được phép vào hội Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng hề bao giờ vào được;
4. bởi v́ khi các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng nó không đem bánh và nước ra rước các ngươi trên đường, và bởi v́ chúng nó có mướn Ba-la-am, con trai Bê-ô, ở Phê-thô-rơ tại Mê-sô-bô-ta-mi, đi đến rủa sả ngươi.
5. Nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi không chịu nghe Ba-la-am, bèn đổi sự rủa sả ra sự chúc phước cho ngươi, v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi thương mến ngươi.
6. Trọn đời ngươi chớ hề cầu sự b́nh an hoặc sự ích lợi cho chúng nó.
7. Chớ lấy làm gớm ghiếc người Ê-đôm, v́ là anh em ḿnh. Cũng chớ lấy làm gớm ghiếc người Ê-díp-tô, v́ ngươi đă làm khách trong xứ người,
8. con cháu họ sanh về đời thứ ba sẽ được phép vào hội Đức Giê-hô-va.
9. Khi ngươi kéo binh ra hăm đánh quân thù nghịch ḿnh, hăy coi chừng về mọi việc ác.
10. Ví bằng trong các ngươi có ai không được tinh sạch bởi mộng di xảy đến lúc ban đêm, th́ người đó phải đi ra ngoài trại quân, chớ vào;
11. buổi chiều người sẽ tắm trong nước, rồi khi mặt trời vừa lặn, sẽ vào trại quân lại.
12. Ngươi phải có một chỗ riêng ở ngoài trại quân; ấy là nơi ngươi phải đi ra;
13. phải có một cây nọc với đồ tùy thân, khi nào muốn đi ra ngoài, hăy lấy cây nọc nầy mà đào, rồi khi đi, phải lấp phẩn ḿnh lại.
14. Bởi v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đi giữa trại quân ngươi, đặng giải cứu ngươi và phó kẻ thù nghịch cho. Vậy, trại quân ngươi phải thánh, kẻo Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi thấy sự ô uế ở nơi ngươi, và xây mặt khỏi ngươi chăng.
15. Khi tôi tớ trốn khỏi chủ ḿnh chạy đến nhà ngươi, chớ nộp nó lại cho chủ;
16. nó sẽ ở với ngươi tại giữa xứ ngươi, trong nơi nào nó chọn, tức trong một thành nào của ngươi mà nó lấy làm ưa thích; chớ hà hiếp nó.
17. Trong ṿng con gái Y-sơ-ra-ên, chớ có người nào chuyên sự buôn hương; trong ṿng con trai Y-sơ-ra-ên cũng chớ có người nào chuyên sự tà dâm.
18. Mặc dầu sự hứa nguyện ngươi thể nào, chớ đem vào nhà của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, hoặc tiền công của một con đĩ, hay là giá trả cho một con chó; v́ cả hai đều lấy làm gớm ghiếc cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
19. Ngươi chớ đ̣i lời-lăi ǵ nơi anh em ḿnh về tiền bạc, về đồ ăn hay là về món nào mặc dầu người ta cho vay, để ăn lời.
20. Ngươi được phép lấy lợi người ngoại bang, nhưng chớ lấy lợi anh em ḿnh, để Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho ngươi về mọi việc ngươi sẽ làm trong xứ mà ngươi sẽ vào để nhận lấy.
21. Khi ngươi hứa nguyện cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, th́ chớ tŕ hoăn làm cho xong; v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi hẳn sẽ đ̣i sự hoàn nguyện ấy; bằng chẳng làm cho xong, ngươi sẽ mang lấy tội.
22. Nhưng nếu ngươi không hứa nguyện, th́ không phạm tội.
23. Khi môi ngươi đă hứa cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi một sự hứa nguyện lạc ư, th́ khá cẩn thận làm trọn lời ra khỏi miệng ḿnh đó.
24. Khi ngươi vào vườn nho của kẻ lân cận ḿnh, th́ có phép ăn nho, tùy theo miệng ăn ngon no nê, song không được bỏ trong giỏ ḿnh.
25. Khi ngươi vào đồng lúa ḿ của kẻ lân cận ḿnh, th́ được phép lấy tay rứt gié lúa; nhưng chớ đặt lưỡi hái vào đồng lúa ḿ của kẻ lân cận ḿnh.

Đoạn:[24]    trở về
  Luật về sự để vợ, về người mới cưới vợ, về của cầm về tội cướp người,.v.v..
1. Khi một người nam cưới vợ, nếu nàng chẳng được ơn trước mặt người, bởi người thấy nơi nàng một sự xấu hổ nào, th́ người được viết một tờ để, trao vào tay nàng, đuổi nàng khỏi nhà ḿnh.
2. Khi nàng đă ra khỏi nhà ḿnh, đi làm vợ một người khác,
3. nếu người chồng thứ nh́ lại ghét nàng, viết cho một tờ để, trao vào tay nàng và đuổi khỏi nhà ḿnh, hay là người chồng thứ nh́ nầy chết đi,
4. th́ người chồng thứ nhất là người đă đuổi nàng đi, không được phép lấy nàng lại làm vợ, sau khi nàng bị ô uế. V́ ấy là một việc gớm ghiếc trước mặt Đức Giê-hô-va; ngươi chớ đổ tội cho xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp.
5. Khi một người nam mới cưới vợ, th́ chớ đi đánh giặc, và chớ bắt người gánh công việc chi; người sẽ được thong thả ở nhà trong một năm, vui vẻ cùng người vợ ḿnh đă cưới.
6. Chớ chịu cầm cái thớt cối dưới hay là trên; v́ ấy là chịu cầm sự sống của kẻ lân cận ḿnh.
7. Khi người ta gặp ai có ăn cướp một người anh em ḿnh trong dân Y-sơ-ra-ên, và đă bắt làm mọi hay là đă bán người, th́ tên bợm ấy phải bị xử tử; ngươi sẽ trừ sự ác khỏi giữa ḿnh vậy.
8. Hăy coi chừng tai vạ bịnh phung, để ǵn giữ làm theo mọi điều mà thầy tế lễ về ḍng Lê-vi sẽ giảng dạy các ngươi; các ngươi phải coi chừng mà làm y như ta đă dặn biểu những thầy tế lễ.
9. Hăy nhớ lại điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi làm cho Mi-ri-am dọc đường, khi các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
10. Khi ngươi cho kẻ lân cận mướn một vật chi, chớ vào nhà người đặng lănh lấy của cầm người;
11. phải đứng ở ngoài, người mà ḿnh cho mướn đó, sẽ đem của cầm ra ngoài đưa cho.
12. Nhược bằng một người nghèo, chớ lấy của cầm người mà đi ngủ.
13. Khá trả cho người trước khi mặt trời lặn, hầu cho người ngủ có áo xống đáp, và chúc phước cho ngươi; ấy sẽ kể cho ngươi là công b́nh trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
14. Ngươi chớ hà hiếp kẻ làm mướn nghèo khổ và túng cùng, bất luận anh em ḿnh hay là khách lạ kiều ngụ trong xứ và trong thành ngươi.
15. Phải phát công giá cho người nội trong ngày đó, trước khi mặt trời lặn; v́ người vốn nghèo khổ, trông mong lănh công giá ấy. Bằng không, người sẽ kêu đến Đức Giê-hô-va về ngươi, và ngươi sẽ mắc tội.
16. Chớ v́ con mà giết cha, cũng đừng v́ cha mà giết con. Phàm người nào phạm tội, th́ phải giết người nấy.
17. Chớ đoán xét bất công khách lạ hay là kẻ mồ côi; và chớ chịu cầm áo xống của người góa bụa.
18. Khá nhớ rằng ḿnh đă làm tôi mọi nơi xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă chuộc ngươi khỏi đó. Cho nên ta dặn biểu ngươi phải làm như vậy.
19. Khi ngươi gặt trong đồng ruộng, quên một nắm gié lúa ở đó, th́ chớ trở lại lấy. Nắm gié ấy sẽ về phần khách lạ, kẻ mồ côi, và người góa bụa, hầu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho ngươi trong mọi công việc của tay ngươi làm.
20. Khi ngươi rung cây ô-li-ve ḿnh, chớ mót những trái sót trên nhánh; ấy sẽ về phần khách lạ, kẻ mồ côi, và người góa bụa.
21. Khi người hái nho ḿnh, chớ mót chi c̣n sót lại; ấy sẽ về phần khách lạ, kẻ mồ côi, và người góa bụa.
22. Khá nhớ rằng ḿnh đă làm tôi mọi trong xứ Ê-díp-tô; bởi cớ ấy, ta dặn biểu ngươi phải làm như vậy.

Đoạn:[25]    trở về
 Luật về đánh đ̣n, về anh em chồng và chị em dâu phối hiệp nhau và cân và lường.
1. Khi nào người ta có tranh tụng nhau, đi đến ṭa để cầu quan án xét đoán, th́ phải định công b́nh cho người công b́nh, và lên án kẻ có tội.
2. Nhược bằng kẻ có tội đáng bị đánh đ̣n, quan án phải khiến người nằm xuống đất, đánh người trước mặt ḿnh, số bao nhiêu đ̣n tùy theo lỗi của người đă phạm.
3. Quan án khiến đánh đ̣n người đến bốn chục, chớ đánh quá, kẻo nếu cứ đánh hơn, th́ anh em ngươi v́ cớ h́nh phạt thái quá ấy phải ra hèn trước mặt ngươi chăng.
4. Chớ khớp miệng con ḅ trong khi nó đạp lúa.
5. Khi anh em ruột ở chung nhau, có một người chết không con, th́ vợ của người chết chớ kết đôi cùng người ngoài; anh em chồng phải đi đến cùng nàng, cưới nàng làm vợ, y theo bổn phận của anh em chồng vậy.
6. Con đầu ḷng mà nàng sanh ra sẽ nối danh cho người anh em chết, hầu cho danh của người ấy chớ tuyệt khỏi Y-sơ-ra-ên.
7. Ví bằng người kia không đẹp ḷng lấy nàng, nàng phải lên đến cửa thành, tới cùng các trưởng lăo mà nói rằng: người anh em chồng tôi không chịu lưu danh anh em người lại trong Y-sơ-ra-ên, và không muốn cưới tôi y theo phận sự anh em chồng.
8. Các trưởng lăo của thành ấy sẽ gọi người và nói cùng người; nếu người cứ nói rằng: Tôi không đẹp ḷng cưới nàng,
9. th́ chị em dâu người sẽ đến gần, trước mặt các trưởng lăo, lột giày khỏi chân người, khạc trên mặt người, đoạn cất tiếng nói rằng: Người nào không lập lại nhà anh em ḿnh sẽ bị làm cho như vậy!
10. Trong Y-sơ-ra-ên sẽ gọi nhà người là nhà kẻ bị lột giày.
11. Khi hai người đánh lộn nhau, nếu vợ của một trong hai người đến gần đặng giải cứu chồng khỏi tay kẻ đánh, và nàng giơ tay nắm nhằm chỗ kín của kẻ ấy,
12. th́ ngươi phải chặt tay nàng đi; mắt ngươi chớ thương xót nàng.
13. Trong bao ngươi chớ có hai thứ trái cân, một thứ già và một thứ non.
14. Trong nhà ngươi chớ có hai thứ ê-pha, một thứ già và một thứ non.
15. Phải dùng trái cân đúng thật và công b́nh, cũng phải có ê-pha đúng thật và công b́nh, để ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.
16. V́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi lấy làm gớm ghiếc người nào làm các điều nầy và phạm sự bất nghĩa.
17. Hăy nhớ điều A-ma-léc đă làm cho ngươi dọc đường, khi các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô;
18. thế nào người không kính sợ Đức Chúa Trời, đến đón ngươi trên đường, xông vào binh hậu ngươi, đánh các người yếu theo ngươi, trong khi chánh ḿnh ngươi mỏi mệt và nhọc nhằn.
19. Vậy, khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă ban sự b́nh an cho, và giải cứu ngươi khỏi mọi kẻ thù nghịch vây phủ ngươi trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy làm sản nghiệp, th́ phải xóa sự ghi nhớ A-ma-léc khỏi dưới trời. Chớ hề quên!

Đoạn:[26]   trở về
  Sản vật đầu mùa. Thuế một phần mười về năm thứ ba
1. Khi ngươi đă vào trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp, khi nhận được và ở tại đó rồi,
2. th́ phải lấy hoa quả đầu mùa của thổ sản ḿnh thâu-hoạch trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi, để trong một cái giỏ, rồi đi đến chỗ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn để danh Ngài ở.
3. Ngươi sẽ tới cùng thầy tế lễ làm chức đang th́ đó, mà nói rằng: Ngày nay, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông, tôi nhận biết tôi đă vào trong xứ mà Đức Giê-hô-va đă thề cùng tổ phụ ban cho chúng tôi.
4. Đoạn, thầy tế lễ sẽ lấy cái giỏ khỏi tay ngươi, để trước bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
5. Đoạn, ngươi cất tiếng nói tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi rằng: Tổ phụ tôi là người A-ram phiêu lưu, đi xuống xứ Ê-díp-tô kiều ngụ tại đó, số người ít, mà lại trở thành một dân tộc lớn, mạnh và đông.
6. Người Ê-díp-tô ngược đăi và khắc bức chúng tôi, bắt làm công dịch nhọc nhằn.
7. Bấy giờ, chúng tôi kêu van cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi. Đức Giê-hô-va nghe thấu, thấy sự gian nan lao khổ và sự hà hiếp của chúng tôi,
8. bèn dùng cánh tay quyền năng giơ thẳng ra và các dấu kỳ, phép lạ lớn đáng kinh khủng, mà rút chúng tôi khỏi xứ Ê-díp-tô,
9. dẫn chúng tôi vào nơi nầy, và ban xứ nầy cho, tức là xứ đượm sữa và mật.
10. Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va ôi! Tôi đem những hoa quả đầu mùa của đất mà Ngài đă ban cho tôi. Đoạn, ngươi sẽ để hoa quả đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và thờ lạy trước mặt Ngài;
11. rồi ngươi, người Lê-vi, và kẻ khách lạ ở giữa ngươi, luôn với nhà của người sẽ vui vẻ về các phước lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đă ban cho ngươi.
12. Khi ngươi đă thâu xong các thuế một phần mười về huê lợi năm thứ ba, là năm thuế một phần mười, th́ phải cấp thuế đó cho người Lê-vi, khách lạ, kẻ mồ côi, và cho người góa bụa, dùng làm lương thực trong các thành ngươi, và những người ấy sẽ ăn no nê;
13. rồi ngươi sẽ nói tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, rằng: Tôi đă đem những vật thánh khỏi nhà tôi và cấp cho người Lê-vi, khách lạ, kẻ mồ côi, cùng người góa bụa, chiếu theo các mạng lịnh mà Ngài đă phán dặn tôi; tôi không phạm, cũng không quên một mạng lịnh nào của Ngài.
14. Trong lúc tang chế, tôi không ăn đến vật thánh nầy; khi bị ô uế, tôi không đụng đến đó, và cũng không v́ một người chết mà dùng đến; tôi vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, và làm y như mọi điều Ngài đă phán dặn tôi.
15. Cầu Chúa từ nơi cư-sở thánh của Ngài trên trời cao, đoái xem và ban phước cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, cùng đất mà Ngài đă ban cho chúng tôi, tức là xứ đượm sữa và mật nầy, y như Ngài đă thề cùng tổ phụ chúng tôi.
16. Ngày nay, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi dặn biểu ngươi làm theo các luật lệ và mạng lịnh nầy; vậy, phải hết ḷng hết ư mà làm theo cách kỷ cang.
17. Ngày nay, ngươi hứa nhận Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời ngươi, đi theo đường lối Ngài, ǵn giữ các luật lệ, điều răn và mạng lịnh Ngài, cùng vâng theo tiếng phán của Ngài.
18. Ngày nay, Đức Giê-hô-va đă hứa nhận ngươi làm một dân thuộc riêng về Ngài, y như Ngài đă phán cùng ngươi, và ngươi sẽ ǵn giữ hết các điều răn Ngài,
19. để Ngài ban cho ngươi sự khen ngợi, danh tiếng, và sự tôn trọng trổi hơn mọi dân mà Ngài đă tạo, và ngươi trở nên một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, y như Ngài đă phán vậy.

Đoạn:[27]   trở về
 Bài giảng thứ ba. Truyền ghi luật pháp trên một bia đá sự chúc lành và sự chúc dữ
1. Môi-se và các trưởng lăo truyền lịnh nầy cho dân sự: Hăy giữ ǵn mọi điều răn mà ta truyền cho các ngươi ngày nay.
2. Khi ngươi đă qua sông Giô-đanh đặng vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi, th́ phải dựng những bia đá lớn và thoa vôi.
3. Đoạn, khi ngươi đă đi qua sông Giô-đanh, vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho, tức là xứ đượm sữa và mật, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi đă hứa cùng ngươi, th́ hăy ghi trên các bia đá đó những lời của luật pháp nầy.
4. Vậy, khi các ngươi đă qua sông Giô-đanh rồi, phải dựng những bia đá nầy trên núi Ê-banh, và thoa vôi, y theo lịnh ta truyền cho các ngươi ngày nay.
5. Tại nơi ấy, ngươi cũng phải lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là một bàn thờ bằng đá; chớ nên tra đồ bằng sắt vào nó.
6. Ngươi phải lập bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi bằng đá nguyên khối, và trên đó dâng những của lễ thiêu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
7. Cũng phải dâng của lễ thù ân, ăn tại đó và vui vẻ trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
8. Ngươi phải ghi trên các bia đá hết thảy lời luật pháp nầy, và khắc cho thật rơ ràng.
9. Môi-se và những thầy tế lễ về ḍng Lê-vi nói cùng cả Y-sơ-ra-ên rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hăy nín và nghe! Ngày nay, ngươi đă trở nên dân của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi;
10. vậy, phải nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi và giữ theo những điều răn và luật lệ của Ngài, mà ta truyền cho ngươi ngày nay.
11. Ngày đó, Môi-se cũng truyền cho dân sự lịnh nầy:
12. Khi các ngươi đi qua sông Giô-đanh rồi, th́ Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Giô-sép, và Bên-gia-min phải đứng trên núi Ga-ri-xim, đặng chúc phước cho dân sự;
13. c̣n Ru-bên, Gát, A-se, Sa-bu-lôn, Đan, và Nép-ta-li phải đứng trên núi Ê-banh, đặng rủa sả.
14. Người Lê-vi sẽ cất tiếng nói lớn lên cùng mọi người nam Y-sơ-ra-ên, mà rằng:
15. Đáng rủa sả thay người nào làm tượng chạm hay là tượng đúc, là vật gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va, công việc bởi tay người thợ, dựng nó lên trong nơi kín nhiệm! Cả dân sự phải đáp: A-men!
16. Đáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ ḿnh! Cả dân sự phải đáp: A-men!
17. Đáng rủa sả thay người nào dời mộc giới của kẻ lân cận ḿnh! Cả dân sự phải đáp: A-men!
18. Đáng rủa sả thay người nào làm cho kẻ mù lạc đường! Cả dân sự phải đáp: A-men!
19. Đáng rủa sả thay người nào làm cong-vạy phép chánh của khách lạ, kẻ mồ côi, và người góa bụa! Cả dân sự phải đáp: A-men!
20. Đáng rủa sả thay kẻ nào nằm cùng vợ kế của cha ḿnh! V́ kẻ đó làm nhục cha ḿnh. Cả dân sự phải đáp: A-men!
21. Đáng rủa sả thay kẻ nào nằm cùng một con thú nào! Cả dân sự phải đáp: A-men!
22. Đáng rủa sả thay kẻ nào nằm cùng chị em ḿnh, hoặc một cha khác mẹ, hoặc một mẹ khác cha! Cả dân sự phải đáp: A-men!
23. Đáng rủa sả thay kẻ nào nằm cùng bà gia ḿnh! Cả dân sự phải đáp: A-men!
24. Đáng rủa sả thay kẻ nào đánh trộm người lân cận ḿnh! Cả dân sự phải đáp: A-men!
25. Đáng rủa sả thay kẻ nào nhận của hối lộ để giết người vô tội! Cả dân sự phải đáp: A-men!
26. Đáng rủa sả thay kẻ nào không giữ các lời của luật pháp nầy để làm theo! Cả dân sự phải đáp: A-men!

Đoạn:[28]     trở về
  Sự phước lành và sự rủa sả
1. Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cách trung thành, cẩn thận làm theo mọi điều răn của Ngài, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, th́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban cho ngươi sự trổi hơn mọi dân trên đất.
2. Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, nầy là mọi phước lành sẽ giáng xuống trên ḿnh ngươi.
3. Ngươi sẽ được phước trong thành, và được phước ngoài đồng ruộng.
4. Bông trái của thân thể ngươi, hoa quả của đất ruộng ngươi, sản vật của sinh súc ngươi, luôn với lứa đẻ của ḅ cái và chiên cái ngươi, đều sẽ được phước;
5. cái giỏ và thùng nhồi bột của ngươi đều sẽ được phước!
6. Ngươi sẽ được phước trong khi đi ra, và sẽ được phước trong khi vào.
7. Đức Giê-hô-va sẽ làm cho kẻ thù nghịch dấy lên cùng ngươi bị đánh bại trước mặt ngươi; chúng nó sẽ do một đường ra đánh ngươi, rồi do bảy đường chạy trốn trước mặt ngươi.
8. Đức Giê-hô-va sẽ khiến phước lành ở cùng ngươi tại trong kho lúa và trong các công việc của ngươi; Ngài sẽ ban phước cho ngươi trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.
9. Nếu ngươi ǵn giữ những điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và đi theo đường lối Ngài, th́ Đức Giê-hô-va sẽ lập ngươi làm một dân thánh cho Ngài, y như Ngài đă thề cùng ngươi;
10. muôn dân của thế gian sẽ thấy rằng ngươi được gọi theo danh Đức Giê-hô-va, và chúng nó sẽ sợ ngươi.
11. Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ làm cho ngươi được của cải nhiều dư dật, khiến cho hoa quả của thân thể ngươi, sản vật của sinh súc, và bông trái của đất ruộng ngươi được sanh nhiều thêm trong xứ mà Đức Giê-hô-va đă thề cùng các tổ phụ ngươi để ban cho ngươi.
12. Đức Giê-hô-va sẽ v́ ngươi mở trời ra, là kho báu của Ngài, đặng cho mưa phải th́ giáng xuống đất, và ban phước cho mọi công việc của tay ngươi. Ngươi sẽ cho nhiều nước vay, c̣n ngươi không vay ai.
13. Nếu ngươi nghe theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà ngày nay ta truyền cho ngươi ǵn giữ làm theo, và nếu không ĺa bỏ một lời nào ta truyền cho ngươi ngày nay, mà xây qua bên hữu hoặc bên tả, đặng đi theo hầu việc các thần khác,
14. th́ Đức Giê-hô-va sẽ đặt ngươi ở đằng đầu, chớ chẳng phải đằng đuôi, ngươi sẽ ở trên cao luôn luôn, chớ chẳng hề ở dưới thấp.
15. Nhưng nếu ngươi không nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, không cẩn thận làm theo các điều răn và luật pháp của Ngài mà ta truyền cho ngươi ngày nay, th́ nầy là mọi sự rủa sả sẽ giáng xuống trên ḿnh ngươi và theo kịp ngươi.
16. Ngươi sẽ bị rủa sả ở trong thành và ngoài đồng ruộng,
17. cái giỏ và thùng nhồi bột của ngươi cũng bị rủa sả,
18. hoa quả của thân thể ngươi, bông trái của đất ruộng ngươi, luôn với lứa đẻ của ḅ cái và chiên cái ngươi, đều sẽ bị rủa sả!
19. Ngươi sẽ bị rủa sả khi đi ra và lúc đi vào.
20. V́ cớ ngươi làm điều ác, và ĺa bỏ Đức Giê-hô-va, nên trong mọi công việc ngươi bắt tay làm, Ngài sẽ khiến giáng cho ngươi sự rủa sả, kinh khủng, và hăm dọa cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt và chết mất vội vàng.
21. Đức Giê-hô-va sẽ khiến ôn dịch đeo đuổi ngươi cho đến chừng nào nó diệt ngươi mất khỏi đất mà ngươi sẽ vào nhận lấy.
22. Đức Giê-hô-va sẽ lấy bịnh lao, bịnh nóng lạnh, bịnh phù, sự nắng cháy, sự hạn hán, binh đao, và sâu lúa mà hành hại ngươi, khiến cho các nỗi đó đuổi theo ngươi cho đến khi ngươi bị chết mất.
23. Các từng trời ở trên đầu ngươi sẽ như đồng, và đất dưới chân ngươi sẽ như sắt.
24. Thay v́ mưa, Đức Giê-hô-va sẽ khiến cát và bụi từ trời sa xuống trên đất ngươi, cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt.
25. Đức Giê-hô-va sẽ khiến ngươi bị những kẻ thù nghịch ḿnh đánh bại. Ngươi sẽ do một đường ra đánh chúng nó, rồi do bảy đường chạy trốn trước mặt chúng nó; ngươi sẽ bị xô đùa đây đó trong khắp các nước của thế gian.
26. Thây ngươi sẽ làm đồ ăn cho chim trên trời và thú dưới đất, không ai đuổi chúng nó đi.
27. Đức Giê-hô-va sẽ giáng cho ngươi ghẻ chốc của xứ Ê-díp-tô, trĩ lậu, ghẻ ngứa, và lác, mà ngươi không thể chữa lành;
28. lại giáng cho ngươi sự sảng sốt, sự đui mù, và sự lảng trí;
29. đang buổi trưa, ngươi sẽ đi rờ rờ như kẻ mù trong tối tăm; ngươi không được may mắn trong công việc ḿnh, hằng ngày sẽ bị hiếp đáp và cướp giựt, chẳng ai giải cứu cho.
30. Ngươi sẽ làm lễ hỏi một người nữ, nhưng một người nam khác lại nằm cùng nàng; ngươi cất một cái nhà, nhưng không được ở; ngươi trồng một vườn nho, song không được hái trái.
31. Con ḅ ngươi sẽ bị giết trước mặt ngươi, song ngươi không được ăn thịt nó; lừa ngươi sẽ bị ăn cắp hiện mắt ngươi, nhưng không ai trả nó lại; chiên ngươi sẽ bị nộp cho kẻ thù nghịch, nhưng ngươi không có ai giải cứu nó.
32. Các con trai và con gái ngươi sẽ bị nộp cho dân ngoại bang có mắt ngươi thấy, hằng ngày hao ṃn v́ trông mong chúng nó; song tay ngươi không c̣n sức cứu vớt.
33. Một dân tộc mà ngươi chưa hề biết sẽ ăn lấy thổ sản và mọi công lao của ngươi; ngươi sẽ bị hiếp đáp và giày đạp không ngớt;
34. trở nên điên cuồng v́ cảnh tượng mắt ḿnh sẽ thấy.
35. Đức Giê-hô-va sẽ giáng cho ngươi một thứ ung độc tại trên đầu gối và chân, không thể chữa lành được, từ bàn chân chí chót đầu.
36. Đức Giê-hô-va sẽ dẫn ngươi và vua mà ngươi đă lập trên ḿnh, đến một nước mà ngươi và tổ phụ ngươi chưa hề biết. Ở đó, ngươi sẽ hầu việc các thần khác bằng cây, bằng đá;
37. trong các dân tộc mà Đức Giê-hô-va sẽ dẫn ngươi đến, ngươi sẽ thành một sự kinh hăi, tục ngữ, và tiếu đàm.
38. Ngươi sẽ đem gieo nhiều mạ trong ruộng ḿnh, nhưng mùa gặt lại ít, v́ sẽ bị cào cào ăn sạch.
39. Ngươi trồng nho, song không được uống rượu và không gặt hái chi hết, v́ sâu bọ sẽ ăn phá đi.
40. Ngươi sẽ có cây ô-li-ve trong cả địa phận ḿnh, nhưng không được xức dầu, v́ cây ô-li-ve sẽ rụng trái.
41. Ngươi sẽ sanh con trai và con gái, nhưng chúng nó không thuộc về ngươi, v́ chúng nó sẽ bị bắt làm mọi.
42. Con rầy sẽ ăn hết cây cối và thổ sản của ngươi.
43. Khách lạ ở giữa ngươi sẽ lướt trên ngươi càng ngày càng cao; c̣n ngươi, lại hạ xuống càng ngày càng thấp:
44. họ sẽ cho ngươi vay, c̣n ngươi chẳng hề cho vay lại, họ sẽ ở đằng đầu, c̣n ngươi ở đằng đuôi.
45. Hết thảy những sự chúc rủa sả nầy sẽ giáng trên ngươi, đuổi ngươi và theo kịp, cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt, bởi v́ ngươi không có nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và không giữ các điều răn và luật lệ mà Ngài truyền cho ngươi.
46. Các sự rủa sả nầy sẽ ở trên ḿnh ngươi và trên ḍng dơi ngươi như một dấu kỳ, sự lạ đến đời đời.
47. Bởi trong lúc dư dật mọi điều, ngươi không vui ḷng lạc ư phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,
48. cho nên trong lúc đói khát, trong lúc trần truồng, và thiếu thốn mọi điều, ngươi sẽ hầu việc kẻ thù nghịch mà Đức Giê-hô-va sai đến đánh ngươi; họ sẽ tra ách sắt trên cổ ngươi, cho đến chừng nào tiêu diệt ngươi.
49. Đức Giê-hô-va sẽ từ nơi xa, từ địa cực, khiến dấy lên nghịch cùng ngươi một dân tộc bay như chim ưng, tức là một dân tộc ngươi không nghe tiếng nói được,
50. một dân tộc mặt mày hung ác, không nể-v́ người già, chẳng thương xót kẻ trẻ;
51. ăn sản vật của súc vật ngươi, hoa quả của đất ruộng ngươi, cho đến chừng nào ngươi bị tiêu diệt; nó không chừa lại ngũ cốc, rượu, dầu hay là lứa đẻ của ḅ và chiên ngươi, cho đến chừng nào đă tiêu diệt ngươi đi.
52. Dân đó sẽ vây ngươi trong các thành của cả xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi, cho đến chừng nào những vách cao lớn và vững bền kia mà ngươi nhờ cậy đó, sẽ bị ngă xuống.
53. Trong lúc bị vây, và khi quân nghịch làm cho túng thế cùng đường, ngươi sẽ ăn hoa quả của thân thể ḿnh, tức là ăn thịt của con trai và con gái ḿnh, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.
54. Trong lúc ngươi bị quân nghịch vây tại các thành ḿnh, làm cho cùng đường túng thế, người nam nào nhu nhược và yếu ớt hơn hết trong các ngươi sẽ ngó giận anh em ḿnh,
55. vợ yêu dấu và con cái ḿnh c̣n lại, không chịu cho ai trong bọn đó thịt của con cái ḿnh, mà người sẽ ăn, bởi ḿnh không c̣n chi hết.
56. Trong lúc ngươi bị quân nghịch vây tại các thành ḿnh, làm cho cùng đường túng thế, người nữ nào non nớt và mảnh-khảnh hơn hết trong các ngươi, v́ sự yểu điệu hay là sự sắc sảo ḿnh, vốn không đặt bàn chân xuống đất,
57. sẽ nh́n giận chồng rất yêu của ḿnh, con trai và con gái ḿnh, bởi cớ nhau bọc ra từ trong bụng, và những con cái ḿnh sanh đẻ; v́ trong cơn thiếu thốn mọi điều, nàng sẽ ăn nhẹm chúng nó.
58. Nếu ngươi không cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy, ghi trong sách nầy, không kính sợ danh vinh hiển và đáng sợ nầy là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,
59. th́ Đức Giê-hô-va sẽ giáng cho ngươi và ḍng giống ngươi những tai vạ lạ thường, lớn lao và lâu bền, nhựng chứng độc bịnh hung.
60. Ngài sẽ khiến giáng trên ngươi các bịnh hoạn của xứ Ê-díp-tô mà ngươi đă run sợ đó, và nó sẽ đeo dính theo ngươi.
61. Vả lại, các thứ chứng bịnh và tai vạ không có chép trong sách luật pháp nầy, th́ Đức Giê-hô-va cũng sẽ khiến giáng trên ngươi, cho đến chừng nào ngươi bị tiêu diệt đi.
62. Số các ngươi vốn đông như sao trên trời, nhưng v́ không có nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, nên chỉ sẽ c̣n lại ít.
63. Hễ Đức Giê-hô-va lấy làm vui mà làm lành và gia thêm các ngươi thể nào, th́ Đức Giê-hô-va cũng sẽ lấy làm vui mà làm cho các ngươi hư mất và tiêu diệt các ngươi thể ấy. Các ngươi sẽ bị truất khỏi xứ mà ḿnh vào nhận lấy,
64. và Đức Giê-hô-va sẽ tản lạc ngươi trong các dân, từ cuối đầu nầy của đất đến cuối đầu kia; tại đó, ngươi sẽ hầu việc các thần khác bằng cây và bằng đá mà ngươi cùng tổ phụ ngươi không hề biết.
65. Trong các nước ấy, ngươi không được an tịnh, bàn chân ngươi không được nghỉ ngơi; nhưng tại đó Đức Giê-hô-va sẽ ban cho ngươi một tấm ḷng run sợ, mắt mờ yếu, và linh hồn hao ṃn.
66. Sự sống ngươi vẫn không chắc trước mặt ngươi; ngày và đêm ngươi hằng sợ hăi, khó liệu bảo tồn sự sống ḿnh.
67. Bởi cớ sự kinh khủng đầy dẫy ḷng ngươi, và bi cảnh mắt ngươi sẽ thấy, nên sớm mai ngươi sẽ nói: Chớ chi được chiều tối rồi! Chiều tối ngươi sẽ nói: Ước ǵ được sáng mai rồi!
68. Đức Giê-hô-va sẽ khiến ngươi đi tàu trở lại xứ Ê-díp-tô, bởi con đường mà trước ta đă nói: Ngươi không thấy nó nữa; ở đó, ngươi sẽ đem bán ḿnh cho kẻ thù nghịch làm nô và t́, nhưng không có ai mua!

Đoạn:[29]    trở về
  Sự lập lại giao ước
1. Nầy là các lời của sự giao ước mà Đức Giê-hô-va dặn biểu Môi-se lập cùng dân Y-sơ-ra-ên, trong xứ Mô-áp, ngoài sự giao ước Ngài đă lập cùng chúng tại Hô-rếp.
2. Vậy, Môi-se gọi cả Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: Các ngươi đă thấy mọi điều Đức Giê-hô-va làm trong xứ Ê-díp-tô dưới mắt các ngươi cho Pha-ra-ôn, quần thần và cả xứ người,
3. tức là những sự thử thách lớn lao, dấu kỳ, phép lạ mà mắt ngươi đă thấy;
4. nhưng cho đến ngày nay Đức Giê-hô-va không ban cho các ngươi một tấm ḷng để biết, mắt để thấy hay là tai để nghe.
5. Ta đă dẫn dắt các ngươi bốn mươi năm trong đồng vắng, áo xống không cũ trên ḿnh ngươi, giày không ṃn dưới chân ngươi,
6. các ngươi không có ăn bánh, uống rượu hay là vật chi say, để cho biết rằng ta, Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của các ngươi.
7. Khi các ngươi đến chốn nầy, Si-hôn, vua Hết-bôn, và Óc, vua Ba-san, đi ra đón đặng giao chiến cùng chúng ta; chúng ta có đánh bại họ,
8. chiếm xứ họ và ban cho chi phái Ru-bên, Gát, và nửa chi phái Ma-na-se, làm sản nghiệp.
9. Vậy, các ngươi khá ǵn giữ làm theo những lời của sự giao ước nầy, hầu cho các ngươi được may mắn trong mọi việc ḿnh làm.
10. Hết thảy các ngươi, nào trưởng tộc, các chi phái, nào các trưởng lăo, nào các quan cai, nào mọi người nam của Y-sơ-ra-ên,
11. những con trẻ và vợ các ngươi, nào kẻ khách lạ ở trong trại quân ngươi, từ người chặt củi cho đến người xách nước, ngày nay hăy đến chầu trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,
12. đặng vào trong sự giao ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và vào trong lời thề mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi lập cùng ngươi ngày nay,
13. hầu cho ngày nay Ngài lập ngươi lên làm dân của Ngài, và Ngài làm Đức Chúa Trời ngươi, y như Ngài đă phán cùng ngươi, và thề cùng tổ phụ ngươi, là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.
14. Chẳng phải chỉ với các ngươi mà ta lập giao ước và lời thề nầy thôi;
15. nhưng lập với người nào ngày nay đứng tại đây cùng chúng ta, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, luôn với những người nào không có cùng chúng ta trong ngày nay.
16. Các ngươi biết sự kiều ngụ của chúng ta trong xứ Ê-díp-tô, và chúng ta đi ngang qua các nước là làm sao. Đang khi đi ngang địa phận chúng nó,
17. các ngươi đă thấy sự gớm ghiếc của chúng nó, và những tà thần quái gở bằng cây, bằng đá, bằng bạc, và bằng vàng ở nơi chúng nó.
18. Trong các ngươi, chớ có người nam, người nữ, họ hàng hay là chi phái nào ngày nay trở ḷng bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, đặng đi hầu việc các thần của những dân tộc ấy; trong các ngươi cũng chớ có rễ sanh ra vật độc và ngải cứu.
19. Ai nghe các lời của sự thề nầy, chớ có tự khoe nơi ḷng rằng: Ta sẽ được b́nh an, dẫu khi ta đi theo sự cứng ḷng ta, đến đỗi vật được tưới với vật bị khô, đều cùng hư nát.
20. Đức Giê-hô-va không khứng tha tội cho người, nhưng bấy giờ, cơn giận và sự kỵ tà của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng người, và hết thảy sự rủa sả ghi trong sách nầy sẽ chất nặng trên ḿnh người; Đức Giê-hô-va sẽ xóa tên người khỏi dưới trời,
21. và biệt người ra khỏi các chi phái Y-sơ-ra-ên, để bị tai họa, chiếu theo hết các lời trù ẻo của giao ước đă ghi trong sách luật pháp nầy.
22. Đời sau, con cháu sanh ra sau các ngươi, và người khách ở phương xa đến, khi thấy những tai vạ và chứng bịnh mà Đức Giê-hô-va đă hành hại xứ nầy,
23. khi thấy toàn xứ chỉ diêm, muối, và cháy tiêu, không giống gieo, không sản vật chi hết, chẳng một thứ cỏ nào mọc, giống như sự hủy hoại của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, Át-ma và Sê-bô-im bị Đức Giê-hô-va phá diệt trong cơn thạnh nộ Ngài,
24. th́ chúng nó và các nước sẽ hỏi rằng: Sao Đức Giê-hô-va đăi xứ nầy như thế? Căn cớ của sự thạnh nộ lớn lao nầy là làm sao?
25. Người ta sẽ đáp rằng: Ấy v́ họ bội giao ước mà Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, đă lập cùng họ, khi dẫn họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô;
26. Ấy v́ họ đi hầu việc và thờ lạy các thần mà ḿnh chưa hề biết, và Ngài không phân phát cho.
27. Cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va đă nổi phừng lên cùng xứ nầy, đặng giáng trên nó các sự rủa sả ghi trong sách nầy,
28. và trong cơn thạnh nộ, hờn giận, và nổi nóng, Đức Giê-hô-va đă rút dân nầy khỏi đất họ, và ném vào một xứ khác, như điều đó hiện có ngày nay.
29. Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; song những sự bày tỏ thuộc về chúng ta, và con cháu chúng ta đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp nầy.

Đoạn:[30]     trở về
  Lời hứa và sự hăm dọa
1. Khi các điều nầy đă xảy đến cho ngươi, hoặc phước lành, hoặc rủa sả, mà ta đă đặt trước mặt ngươi, nếu trong các nước, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đuổi ngươi đến, ngươi đem ḷng nhắc lại những điều ấy,
2. trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ngươi và con cháu ngươi hết ḷng hết ư vâng theo tiếng phán của Ngài, như mọi điều ta truyền cho ngươi ngày nay,
3. th́ bấy giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ thương xót ngươi, đem những phu tù ngươi trở về, nhóm hiệp ngươi từ giữa các dân, là nơi Ngài đă tản lạc ngươi đó.
4. Dẫu những kẻ bị đày của ngươi ở tại cuối trời, th́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cũng sẽ từ đó nhóm hiệp ngươi lại và rút ngươi khỏi nơi đó.
5. Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ đem ngươi về xứ mà tổ phụ ngươi đă nhận được, và ngươi sẽ nhận lấy nó; Ngài sẽ làm ơn cho ngươi và gia thêm ngươi nhiều hơn tổ phụ ngươi.
6. Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ cất sự ô uế khỏi ḷng ngươi và khỏi ḍng dơi ngươi, để ngươi hết ḷng hết ư kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, hầu cho ngươi được sống.
7. Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ đổ các lời trù ẻo nầy trên kẻ thù nghịch ngươi, trên kẻ nào ghét và bắt bớ ngươi.
8. C̣n ngươi sẽ hối cải, nghe theo tiếng phán của Đức Giê-hô-va, và làm theo các điều răn của Ngài, mà ta truyền cho ngươi ngày nay.
9. Khi ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ǵn giữ các điều răn và luật lệ của Ngài đă ghi trong sách luật pháp nầy, hết ḷng hết ư trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, th́ Ngài sẽ ban phước đầy-lấp,
10. làm cho mọi công việc của tay ngươi được thạnh lợi, khiến hoa quả của thân thể ngươi, sản vật của sinh súc, và bông trái của đất ruộng ngươi được thịnh-vượng; v́ Đức Giê-hô-va sẽ lại vui ḷng nữa mà làm ơn cho ngươi, như Ngài đă vui ḷng về các tổ phụ ngươi.
11. Điều răn nầy mà ta truyền cho ngươi ngày nay chẳng phải cao quá ngươi, hay là xa quá cho ngươi.
12. Nó chẳng phải ở trên trời, để ngươi nói rằng: Ai sẽ lên trời đem nó xuống cho chúng tôi nghe, đặng chúng tôi làm theo?
13. Nó cũng chẳng phải ở bên kia biển, để ngươi nói rằng: Ai sẽ đi qua bên kia biển, đem nó về cho chúng tôi nghe, đặng chúng tôi làm theo?
14. V́ lời nầy rất gần ngươi, ở trong miệng và trong ḷng ngươi, để ngươi làm theo nó.
15. Hăy xem, ngày nay ta đặt trước mặt ngươi sự sống và phước lành, sự chết và tai họa,
16. v́ ngày nay, ta bảo ngươi thương mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đi trong các đường lối Ngài, và ǵn giữ những điều răn luật lệ và mạng lịnh Ngài, để ngươi sống, gia thêm, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho ngươi trong xứ mà ngươi sẽ vào nhận lấy.
17. Nhưng nếu ḷng ngươi xây trở, không khứng nghe theo, chịu dụ dỗ thờ lạy và hầu việc các thần khác,
18. th́ ngày nay ta tỏ cùng các ngươi rằng các ngươi hẳn phải tuyệt diệt, không được sống lâu trên đất mà ngươi sẽ đi qua sông Giô-đanh đặng nhận lấy.
19. Ngày nay, ta bắt trời và đất làm chứng cho các ngươi rằng ta đă đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, sự phước lành và sự rủa sả. Vậy, hăy chọn sự sống, hầu cho ngươi và ḍng dơi ngươi được sống,
20. thương mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vâng theo tiếng phán Ngài, và tríu mến Ngài; v́ Ngài là sự sống ngươi và làm cho ngươi được sống lâu, đặng ngươi ở trên đất mà Đức Giê-hô-va đă thề ban cho các tổ phụ ngươi, là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.

Đoạn:[31]    trở về
 Sự từ giả và sự qua đời của Môi-se (từ đoạn 31 đến 34)
Trao quyền cai trị cho Giô-suê, và giao luật pháp cho người Lê-vi

1. Môi-se đến giảng cho cả Y-sơ-ra-ên những bài sau nầy.
2. Người nói: Ngày nay ta được một trăm hai mươi tuổi; không thể đi ra đi vào nữa; và Đức Giê-hô-va có phán cùng ta rằng: Ngươi không đi ngang qua sông Giô-đanh nầy đâu.
3. Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ đi đầu ngươi, Ngài sẽ diệt các dân tộc ở đằng trước ngươi, và ngươi sẽ nhận được xứ chúng nó; Giô-suê sẽ đi trước ngươi, y như Đức Giê-hô-va đă phán dặn.
4. Đức Giê-hô-va sẽ đăi chúng nó như Ngài đă đăi Si-hôn và Óc, vua dân A-mô-rít, và xứ chứng nó mà Ngài đă hủy phá.
5. Đức Giê-hô-va sẽ phó chúng nó cho các ngươi, và các ngươi phải đăi chúng nó tùy theo lịnh ta đă truyền cho.
6. Hăy vững ḷng bền chí; chớ sợ chi và chớ kinh khủng trước mặt các dân đó: v́ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đi cùng ngươi; Ngài chẳng ĺa khỏi ngươi, chẳng từ bỏ ngươi đâu.
7. Đoạn, Môi-se gọi Giô-suê, nói cùng người tại trước mặt cả Y-sơ-ra-ên mà rằng: Hăy vững ḷng bền chí; v́ ngươi sẽ vào với dân nầy trong xứ mà Đức Giê-hô-va đă thề ban cho tổ phụ họ, và ngươi sẽ chia xứ cho họ.
8. Chánh Đức Giê-hô-va sẽ đi trước ngươi, Ngài sẽ ở cùng ngươi, chẳng ĺa khỏi ngươi, chẳng từ bỏ ngươi đâu. Chớ sợ, và chớ kinh khủng.
9. Môi-se chép luật nầy, giao cho những thầy tế lễ, là con cháu Lê-vi, khiêng ḥm giao ước của Đức Giê-hô-va, lại giao luôn cho hết thảy trưởng lăo Y-sơ-ra-ên,
10. và truyền lịnh nầy, mà rằng: Cuối bảy năm, nhằm năm giải thích, tại ngày lễ lều tạm,
11. khi cả dân Y-sơ-ra-ên đến chầu trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, trong chỗ Ngài sẽ chọn, th́ ngươi phải đọc luật nầy trước cả Y-sơ-ra-ên cho chúng nghe.
12. Ngươi phải nhóm hiệp dân sự, nào người nam, người nữ, nào con trẻ và khách lạ ở trong các thành của ngươi, để chúng nghe, tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy.
13. Những con cái của dân sự chưa biết việc ấy, sẽ nghe, tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, trọn lúc các ngươi sống trên đất mà các ngươi sẽ nhận được, sau khi đă đi ngang qua sông Gô-đanh.
14. Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Ḱa, ngày chết của ngươi hầu gần; hăy gọi Giô-suê, rồi hai ngươi hăy ra mắt tại hội mạc, để ta truyền lịnh ta cho người. Vậy, Môi-se và Giô-suê đi đến chầu tại hội mạc.
15. Đức Giê-hô-va hiện ra nơi Trại, trong một trụ mây, và trụ mây dừng lại tại cửa Trại.
16. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ḱa, ngươi sẽ an giấc với các tổ phụ ngươi; dân sự nầy sẽ dấy lên và thông dâm cùng các thần khác trong xứ mà họ sẽ vào, bỏ ta và bội giao ước ta đă lập cùng họ.
17. Trong ngày ấy, cơn thạnh nộ ta sẽ phừng lên cùng họ, ta sẽ bỏ họ, giấu mặt ta đi, khiến cho họ bị tiêu nuốt; nhiều sự tai vạ và buồn thảm sẽ xông hăm vào họ. Trong ngày đó họ sẽ nói rằng: Há có phải v́ Đức Chúa Trời không ngự giữa tôi, nên những tai vạ nầy xông hăm vào tôi chăng?
18. C̣n ta, trong ngày đó, sẽ giấu mất mặt ta đi, v́ cớ các tội ác của dân đă làm, trở theo các thần khác.
19. Vậy bây giờ, hăy chép bài ca nầy và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên; hăy để trong miệng họ, để bài ca nầy dùng làm chứng cho ta nghịch cùng dân Y-sơ-ra-ên.
20. V́ ta sẽ đưa dân nầy vào xứ, ta đă thề hứa cùng tổ phụ chúng nó; tức là xứ đượm sữa và mật; chúng nó sẽ ăn no nê và mập béo; đoạn, trở đi hầu việc các thần khác, khinh dể ta, và bội giao ước của ta.
21. Khi tai vạ nhiều và sự gian truân đă xông hăm dân nầy, th́ bấy giờ, bài ca nầy sẽ rền lên làm chứng nghịch cùng nó, v́ miệng của ḍng dơi nó sẽ không quên. Vả, ta biết những ư tưởng của nó đă kết nên ngày nay, trước khi đưa nó vào xứ mà ta đă thề ban cho.
22. Trong ngày đó, Môi-se chép bài ca nầy và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên.
23. Đức Giê-hô-va ra lịnh cho Giô-suê, con trai Nun, mà rằng: Hăy vững ḷng bền chí, v́ ngươi sẽ đưa dân Y-sơ-ra-ên vào trong xứ mà ta đă thề ban cho chúng nó; c̣n ta, ta sẽ ở cùng ngươi.
24. Khi Môi-se chép những lời luật pháp nầy trong một cuốn sách xong rồi,
25. th́ ra lịnh cho người Lê-vi khiêng ḥm giao ước của Đức Giê-hô-va mà rằng:
26. Hăy lấy cuốn sách luật pháp nầy, để bên ḥm giao ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi. Nó sẽ ở đó làm chứng nghịch cùng ngươi;
27. v́ ta biết tánh bội nghịch và cứng cổ của ngươi. Nầy ngày nay, lúc ta c̣n sống với các ngươi, các ngươi đă phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va; huống chi sau khi ta qua đời!
28. Hăy nhóm hiệp những trưởng lăo của các chi phái và quan cai các ngươi lại gần ta; ta sẽ cho họ nghe những lời nầy nơi lỗ tai, và ta bắt trời cùng đất làm chứng nghịch cùng họ.
29. V́ ta biết rằng, sau khi ta qua đời, các ngươi hẳn sẽ bại hoại, trở bỏ đường ta đă truyền dạy cho các ngươi; trong ngày sau rốt, tai họa sẽ xông hăm các ngươi, bởi các ngươi làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, lấy những công việc của tay ḿnh mà chọc Ngài nổi giận.
30. Môi-se đọc hết những lời của bài ca nầy cho cả hội Y-sơ-ra-ên nghe:

Đoạn:[32]    trở về
  Bài ca của Môi-se
1. Hỡi trời, hăy lắng tai, tôi sẽ nói; Và đất, hăy nghe những lời của miệng tôi.
2. Đạo của tôi rải ra như mưa; Lời tôi sa xuống khác nào sương móc, Tợ mưa tro trên cây cỏ, Tỉ như mưa tầm tă trên đồng xanh.
3. V́ tôi sẽ tung hô danh Giê-hô-va. Hăy tôn sự oai nghiêm cho Đức Chúa Trời chúng tôi!
4. Công việc của Ḥn Đá là trọn vẹn; V́ các đường lối Ngài là công b́nh. Ấy là Đức Chúa Trời thành tín và vô tội; Ngài là công b́nh và chánh trực.
5. Chúng đáng mang xấu hổ, v́ đă phản Ngài, Chẳng phải con trai của Ngài nữa: quả là một ḍng dơi gian tà và điên-đảo!
6. Hỡi dân khờ dại không trí, Các ngươi báo đáp Đức Giê-hô-va như vậy sao? Ngài há chẳng phải là Cha ngươi, Đấng đă chuộc ngươi chăng? Há chẳng phải Ngài đă dựng nên ngươi, và lập ngươi sao?
7. Hăy nhớ lại những ngày xưa; Suy xét những năm của các đời trước; Hăy hạch hỏi cha ngươi, người sẽ dạy cho. Cùng các trưởng lăo, họ sẽ nói cho.
8. Khi Đấng Chí Cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân, Phân rẽ những con cái A-đam, Th́ Ngài định bờ cơi của các dân, Cứ theo số dân Y-sơ-ra-ên.
9. V́ phần của Đức Giê-hô-va là dân Ngài, Gia-cốp là cơ nghiệp Ngài.
10. Ngài t́m được người trong một nơi rừng-rú, Tại nơi vắng vẻ, giữa những tiếng hét la của đồng vắng. Ngài bao phủ người, săn sóc người, Ǵn giữ người như con ngươi của mắt ḿnh.
11. Như phụng hoàng phấp phới dởn ổ ḿnh, Bay chung quanh con nhỏ ḿnh, Sè cánh ra xớt nó, Và cơng nó trên chéo cánh ḿnh thể nào,
12. Th́ một ḿnh Đức Giê-hô-va đă dẫn dắt người thể ấy, Không có thần nào khác ở cùng người.
13. Ngài đă khiến người cỡi trên các nơi cao của xứ, Y-sơ-ra-ên đă ăn hoa quả của đồng ruộng, Ngài khiến người hút mật của ḥn đá, Dầu của ḥn đá cứng hơn hết,
14. Và nút mỡ sữa ḅ và sữa chiên. Ngài ban cho người mỡ chiên con, Chiên đực sanh tại Ba-san, và dê đực, Cùng bột lọc nhất hạng của lúa mạch; Người có uống huyết của nho như rượu mạnh.
15. Giê-su-run đă mập mạp và cất đá, Người trở nên mập, lớn và béo tṛn. Người đă ĺa bỏ Đức Chúa Trời, là Đấng dựng nên người, Và khinh dể Ḥn Đá của sự chửng cứu người.
16. Chúng nó trêu ghẹo Ngài phân b́, bởi sự cúng thờ những thần khác, Chọc giận Ngài v́ các sự gớm ghiếc;
17. Tế lễ những ma quỉ chẳng phải là Đức Chúa Trời, Qú lạy các thần mà ḿnh chưa hề biết, Tức là các thần mới vừa đến ít lâu, Mà tổ phụ các ngươi không kính sợ.
18. Ngươi không kể đến Ḥn Đá sanh ḿnh. Và quên Đức Chúa Trời đă tạo ḿnh.
19. Đức Giê-hô-va có thấy điều đó, nên trong cơn thạnh nộ, Ngài đă từ bỏ các con trai và con gái ḿnh.
20. Ngài có phán: Ta sẽ giấu mặt ta, Để xem sự cuối cùng của chúng nó ra sao; V́ là một ḍng dơi gian tà, Là những con cái không có ḷng trung tín.
21. Chúng nó giục ta phân b́, v́ cúng thờ thần chẳng phải là Đức Chúa Trời, Lấy sự hư không mà chọc giận ta; Ta cũng vậy, lấy một dân tộc hèn mà trêu sự phân b́ của chúng nó, Lấy một nước ngu dại mà chọc giận chúng nó.
22. V́ có lửa nổi phừng trong cơn giận ta, Cháy cho đến đáy sâu âm phủ, Thiêu nuốt đất và thổ sản, Cùng cháy đốt nền các núi.
23. Ta sẽ chất những tai vạ trên ḿnh chúng nó, Bắn chúng nó hết các tên ta.
24. Chúng nó sẽ bị đói hao ṃn, bị rét tiêu đi, Và một thứ dịch hạch độc dữ ăn nuốt. Ta sẽ khiến răng thú rừng, Và nọc độc của loài ḅ dưới bụi đến hại chúng nó.
25. Ngoài th́ gươm dao, Trong th́ kinh khủng Sẽ làm cho trai trẻ, gái đồng trinh, Và con đang bú, luôn với người già bạc Đều bị diệt vong.
26. Ta nói rằng: Ta sẽ lấy hơi thở ta quét sạch chúng nó đi, Diệt kỷ niệm chúng nó khỏi loài người.
27. Song sợ thù nghịch nhiếc nhóc, Kẻ cừu địch chúng nó lầm hiểu, La rằng: Tay chúng tôi đă tỏ sức cao cường, Chớ chẳng phải Đức Giê-hô-va có làm mọi điều ấy đâu!
28. V́ là một dân mất trí, Trong ḷng không có thông minh!
29. Chớ chi họ khôn ngoan và hiểu được, Ước ǵ nghĩ đến sự cuối cùng vẫn đợi họ!
30. Nhược bằng Ḥn Đá không có bán chúng nó, Và Giê-hô-va không giao nộp chúng nó, Th́ làm sao một người rượt nổi ngàn người, Và hai người đuổi mười ngàn người trốn đi?
31. V́ ḥn đá chúng nó chẳng phải như Ḥn Đá chúng ta, Thù nghịch chúng ta cũng xét đoán như vậy.
32. Cây nho chúng nó vốn là chồi của Sô-đôm, Và do đất của Gô-mô-rơ. Trái nho chúng nó vốn là độc, Và chùm nho vốn là đắng;
33. Rượu nho chúng nó là nọc độc con rắn, Một thứ nọc độc rất dữ của rắn hổ.
34. Những việc như thế làm sao ta quên được? Ta đă niêm phong nó vào trong kho ta.
35. Khi chân chúng nó xiêu tó, Sự báo thù sẽ thuộc về ta, phần đối trả sẽ qui về ta. V́ ngày bại hoại của chúng nó hầu gần, Và những tai họa buộc phải xảy ra cho chúng nó đến mau.
36. Phải, khi Đức Giê-hô-va thấy sức lực của dân sự ḿnh hao ṃn, Và không c̣n lại tôi mọi hay là tự chủ cho chúng nó, Th́ Ngài sẽ đoán xét công b́nh cho chúng nó, Và thương xót tôi tớ Ngài.
37. Ngài sẽ phán: Các thần chúng nó, Những ḥn đá chúng nó nhờ cậy,
38. Các thần hưởng mỡ của hi sinh, Và uống rượu của lễ quán chúng nó, đều ở đâu? Các thần ấy hăy đứng dậy, giúp đỡ Và che phủ cho các người!
39. Bây giờ, hăy xem ta là Đức Chúa Trời, Ngoài ta chẳng có Đức Chúa Trời nào khác. Ta khiến cho chết và cho sống lại, Làm cho bị thương và chữa cho lành, Chẳng có ai giải cứu khỏi tay ta được.
40. V́ ta giơ tay chỉ trời Mà thề rằng: Ta quả thật hằng sống đời đời,
41. Khi ta mài lưỡi sáng của gươm ta, Và tay ta cầm sự đoán xét, Th́ ta sẽ báo thù kẻ cừu địch ta, Cùng đối trả những kẻ nào ghét ta.
42. Ta sẽ làm cho các mũi tên ta say huyết; Lưỡi gươm ta ăn thịt, Tức là huyết của kẻ bị giết và của phu tù, Thịt của đầu các tướng thù nghịch.
43. Hỡi các nước! Hăy vui mừng với dân Ngài, V́ Đức Chúa Trời sẽ báo thù huyết của tôi tớ Ngài, trả thù kẻ cừu địch Ngài, và tha tội cho xứ và cho dân của Ngài.
44. Vậy, Môi-se cùng Giô-suê, con trai của Nun, đến đọc hết các lời bài ca nầy cho dân sự nghe.
45. Khi Môi-se đă đọc xong các lời nầy tại trước mặt cả Y-sơ-ra-ên,
46. th́ người nói cùng chúng rằng: Hăy để ḷng chăm chỉ về hết thảy lời ta đă nài khuyên các ngươi ngày nay, mà truyền cho con cháu ḿnh, để chúng nó cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy.
47. V́ chẳng phải một lời nói vô giá cho các ngươi đâu, nhưng nó là sự sống của các ngươi; nhờ lời nói nầy, các ngươi sẽ ở lâu ngày trên đất mà các ngươi sẽ đi nhận lấy, khi qua sông Giô-đanh.
48. Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
49. Hăy đi lên núi A-ba-rim, trên đỉnh Nê-bô, ở trong xứ Mô-áp, đối ngang Giê-ri-cô; rồi nh́n xứ Ca-na-an mà ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp.
50. Vả, ngươi sẽ chết trên núi mà ngươi lên đó và sẽ được tiếp về cùng dân ngươi, y như A-rôn, anh ngươi, đă chết trên núi Hô-rơ, và đă được tiếp về cùng dân của người,
51. bởi v́ tại giữa dân Y-sơ-ra-ên, các ngươi đă phạm tội cùng ta, nơi nước Mê-ri-ba tại Ca-đe, trong đồng vắng Xin, và v́ các ngươi không tôn ta thánh giữa dân Y-sơ-ra-ên.
52. Quả thật, ngươi sẽ thấy xứ ở trước mặt ḿnh, nhưng không được vào trong xứ ấy mà ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên.

Đoạn:[33]    trở về
  Lời chúc tiên tri của Môi-se
1. Vả, nầy là lời chúc phước mà Môi-se, người của Đức Chúa Trời, chúc cho dân Y-sơ-ra-ên, trước khi qua đời.
2. Người bèn nói: Đức Giê-hô-va đă đến từ Si-na-i, Ngài từ Sê-i-rơ dấy lên trên dân chúng, Chiếu sáng từ núi Pha-ran, Đến từ giữa muôn vàn đấng thánh; Từ tay hữu Ngài phát ra cho họ lửa của luật pháp Ngài.
3. Ngài thương yêu dân sự, Các thánh của Ngài đều ở trong tay Ngài, Qú xuống chân Ngài, Đặng lănh những lời của Ngài.
4. Môi-se đă ban một luật pháp cho chúng tôi, Là cơ nghiệp của hội chúng Gia-cốp.
5. Khi các quan trưởng của dân sự hội hiệp, Với những chi phái Y-sơ-ra-ên, Th́ Ngài trở nên vua của Giê-su-run.
6. Nguyện Ru-bên sống, chớ thác, Dẫu số người của nó sẽ ít đông.
7. Người chúc cho Giu-đa rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, cầu xin Ngài nghe tiếng của Giu-đa, Và đưa người về dân ḿnh; Nguyện tay người binh vực chúng, Xin Chúa đến giúp người đương địch cùng kẻ thù nghịch ḿnh!
8. Người cũng chúc cho Lê-vi rằng: Thu-mim và u-rim của ngươi vốn thuộc về người tin kính của ngươi, Mà ngươi thử thách tại Ma-sa, Tranh giành với tại nước Mê-ri-ba.
9. Lê-vi nói về cha mẹ ḿnh rằng: Tôi không hề thấy cha mẹ; Người không nhận anh em ḿnh, Chẳng biết đến con cái ḿnh. V́ người ǵn giữ lời Chúa, Canh chừng sự giao ước của Chúa.
10. Họ lấy mạng lịnh của Chúa dạy cho Gia-cốp, Và luật pháp Chúa cho Y-sơ-ra-ên; Họ để hương dưới mũi Ngài, Đặt của lễ thiêu trên bàn thờ Ngài.
11. Lạy Đức Giê-hô-va, xin ban phước cho của cải người, Và nhậm công việc của tay người làm. Xin bẻ nát họng của kẻ dấy nghịch và ghen ghét người, Để chúng nó không thế dấy lên nữa!
12. Người chúc về Bên-gia-min rằng: Người mà Đức Giê-hô-va yêu mến Sẽ được ở yên gần bên Ngài. Hằng ngày Đức Giê-hô-va sẽ che chở người, Lập nơi ở Ngài giữa hai vai người.
13. Người chúc về Giô-sép rằng: Xứ người được Đức Giê-hô-va ban phước; Từ trời Ngài giáng xuống cho người ân tứ rất báu, là sương-móc, Những suối của vực thẳm có nước sâu;
14. Những huê lợi quí nhất của mặt trời, Hoa quả cực báu của mặt trăng;
15. Những vật nhất hạng của núi xưa, Các báu lạ của mấy g̣ đống đời đời,
16. Bửu bối của đất, và sự sung măn nó. Nguyện ơn của Đấng hiện ra trong bụi gai Giáng xuống trên đầu Giô-sép, Và trên trán của chúa anh em người!
17. Oai nghiêm người giống như con ḅ đực đầu ḷng; Hai sừng người vốn sừng của trâu! Người lấy sừng ấy báng mọi dân, cho đến cuối đầu của đất. Đó là hằng muôn của Ép-ra-im, Ấy là hằng ngàn của Ma-na-se.
18. Người chúc về Sa-bu-lôn rằng: Hỡi Sa-bu-lôn, khá vui mừng về cuộc ḿnh đi ra ngoài, C̣n ngươi, Y-sa-ca, hăy hớn hở trong các trại ḿnh!
19. Hai người sẽ gọi các dân tộc lên núi; Tại đó, dâng những của tế lễ công b́nh; V́ hai người sẽ hút sự dư dật của biển, Và những bửu vật lấp dưới cát.
20. Người chúc về Gát rằng: Đáng ngợi khen thay Đấng để Gát nơi quảng-khoát, Người nằm nghỉ như một sư tử cái, Và xé cánh tay cùng đầu.
21. Người đă chọn cho ḿnh phần đầu nhất của xứ, Bởi v́ tại đó đă dành phần của đấng lập luật pháp, Và người ở đằng đầu dân sự đi đến. Người đồng ḷng với Y-sơ-ra-ên làm xong công b́nh của Đức Giê-hô-va, Và làm theo những mạng lịnh của Ngài.
22. Người chúc về Đan rằng: Đan là một sư tử tơ, Từ Ba-san nhảy xông đến.
23. Người chúc về Nép-ta-li rằng: Nép-ta-li hưởng ân huệ cho thỏa nguyện, Và phước lành của Đức Giê-hô-va cho đầy dẫy Chiếm được phương tây và phương nam.
24. Người chúc về A-se rằng: Nguyện cho A-se được phước giữa các con trai Y-sơ-ra-ên; Được đẹp ḷng anh em ḿnh, Và được dầm chân ḿnh trong dầu!
25. Những then cửa người sẽ bằng sắt và đồng, Đời ngươi lâu bao nhiêu, sức mạng ngươi lâu bấy nhiêu.
26. Ồ Giê-su-run, không ai giống như Đức Chúa Trời, Là Đấng oai nghi, cỡi trên các từng trời, Trên những đám mây, đặng đến cứu giúp ngươi.
27. Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, Ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài, Ngài đuổi kẻ thù nghịch khỏi trước mặt ngươi, Và phán cùng ngươi rằng: Hăy diệt đi!
28. Y-sơ-ra-ên sẽ ở b́nh an; Suối Gia-cốp phun lên riêng ra Trong một xứ ngũ cốc và rượu; Trời của ngươi nhỏ sương móc xuống.
29. Ồ! Y-sơ-ra-ên, ngươi có phước dường bao! Hỡi dân được Đức Giê-hô-va cứu rỗi, ai giống như ngươi? Ngài là cái thuẫn giúp đỡ ngươi, thanh gươm khiến cho ngươi nên vinh hiển. Kẻ thù nghịch ngươi sẽ đến dua nịnh ngươi; C̣n ngươi, ngươi sẽ lấy chân giày đạp các nơi cao của chúng nó.

Đoạn:[34]    trở về
  Môi-se qua đời
1. Kế ấy, Môi-se từ đồng bằng Mô-áp lên trên núi Nê-bô, nơi đỉnh Phích-ga, đối ngang Giê-ri-cô, rồi Đức Giê-hô-va cho người xem toàn xứ, từ Ga-la-át chí Đan;
2. toàn Nép-ta-li, xứ Ép-ra-im và Ma-na-se, cả xứ Giu-đa cho đến biển Tây,
3. miền Nam, đồng bằng, sông Giô-đanh và trũng Giê-ri-cô, thành cây chà là, cho đến Xoa.
4. Đức Giê-hô-va phán cùng người rằng: Đó là xứ mà ta đă thề ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, mà rằng: Ta sẽ ban xứ ấy cho ḍng giống ngươi. Ta cho tự mắt ngươi xem xứ ấy, nhưng ngươi không vào đó được.
5. Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, qua đời tại đó, trong đồng bằng Mô-áp, theo như lịnh của Đức Giê-hô-va.
6. Đức Chúa Trời bèn chôn người trong trũng tại xứ Mô-áp, đối ngang Bết-Phê-o; cho đến ngày nay không có ai biết được mộ của người.
7. Vả, khi Môi-se qua đời, tuổi được một trăm hai mươi; mắt người không làng, sức người không giảm.
8. Dân Y-sơ-ra-ên khóc Môi-se trong ba mươi ngày tại đồng bằng Mô-áp. Những ngày khóc và ngày chịu tang cho Môi-se đă xong rồi là như vậy.
9. Giô-suê, con trai của Nun, được đầy dẫy thần khôn ngoan, v́ Môi-se đă đặt tay ḿnh trên người; dân Y-sơ-ra-ên bèn vâng lời người và làm theo điều Đức Giê-hô-va đă phán dặn Môi-se.
10. Về sau, trong Y-sơ-ra-ên không c̣n dấy lên tiên tri nào giống như Môi-se, mà Đức Giê-hô-va biết giáp mặt.
11. Không có ai bằng người, hoặc về các dấu kỳ, phép lạ mà Đức Giê-hô-va sai người làm tại trong xứ Ê-díp-tô, trước mặt Pha-ra-ôn, các quần thần, và cả xứ của người;
12. hoặc hết thảy công việc lớn lao và đáng sợ mà Môi-se cậy tay quyền năng ḿnh làm tại trước mặt cả Y-sơ-ra-ên.